Top 7 # Giống Chó Labrador Ở Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Misssportsvietnam.com

Kỹ Thuật Nuôi Chó Labrador Ở Việt Nam

Lịch sử giống chó Labrador Retriever

Giống chó Labrador Retriver có tổ tiên là Greater Newfoundland, cũng là tổ tiên của giống chó Newfoundland của Canada ngày nay. Greater Newfoundland có một dòng nhỏ hơn gọi là Lesser Newfoundland, hay còn gọi là chó St. John (St. John’s dog) – tổ tiên trực tiếp của chó Labrador hiện đại. St. Johb’s là tổ tiên của 4 giống chó họ Retriever ngày nay là Flat-Coated Retriever, Chesapeake Bay Retriever, Golden Retriever và Labrador Retriever. Trong đó, chó Labrador được cho là gần như nguyên bản và giữ lại được nhiều đặc điểm của chó cổ St. John nhất.

Những chú chó Labrador đầu tiên được nhập khẩu từ Newfoundland vào châu Âu vào năm 1830. Giới quý tộc nhanh chóng phát hiện ra giống chó này rất giỏi trong việc tìm kiếm phát hiện con mồi và tha những con mồi lớn về cho chủ, nhất là các con mồi ở những vùng ngập nước, nên được nhân giống rộng rãi làm chó săn cho giới quý tộc. Chúng cũng thường được sử dụng trên các tàu cá ở châu Âu, nhất là trong các đoàn tàu cá của ngư dân Bồ Đào Nha.

Đến gần cuối thế kỷ 19, vào những năm 1880, chính quyền Newfoundland (Canada) ra đời và chú trọng phát triển ngành chăn cừu. Những chú Labrador Retriever là mối đe dọa lớn nhất với các đàn cừu nên đã ra luật mỗi gia đình chỉ được sở hữu 1 chú chó Lab, và phải đóng thuế cho chó Lab cái. Thêm vào đó, chính phủ Anh thời kỳ này ra luật rất khắt khe với những chú chó ngoại nhập như phải có giấy phép nhập chó, phải đóng thuế cao và phải giữ lại ít nhất nửa năm để theo dõi trước khi được về nhà do lo sợ các bệnh ngoại lai lây nhiễm trên chó bản địa.

Chính vì những đạo luật khắt khe này nên chó Labrador gần như đã tuyệt chủng ở Newfoundland và cũng rất hiếm xuất hiện ở Anh cũng như các nước châu Âu khác vào cuối thế kỷ 19 và đầu 20. Để bảo tồn giống, những chú chó Lab còn lại buộc phải cho lai với các giống chó khác ở châu Âu như Setter, Spaniel,… Vì vậy chó Labrador Retriever ngày nay khác nhiều so với tổ tiên của chúng. Những cuộc tình ngang trái giữa Lab nguyên thủy và các giống chó châu Âu cũng cho ra đời những giống chó Retriever khác, trong đó có người anh em rất gần gũi Golden Retriever.

Trong những năm 20 và 30, chó Labrador được nhập khẩu rất nhiều vào Mỹ và bắt đầu thời kỳ “bùng nổ dân số” của chó Lab. Với những đặc điểm tính cách đặc biệt thích hợp để làm chó nuôi bầu bạn trong gia đình, chó Lab nhanh chóng trở nên rất phổ biến tại Mỹ và hiện là giống chó được nuôi nhiều nhất trong các gia đình Mỹ. Ngoài làm thú cưng, chó Lab cũng được huấn luyện nghiệp vụ để đánh hơi chất nổ, ma túy, tìm kiếm đồ vật, canh gác và giúp đỡ người mù.

Đặc điểm chó Labrador Retriever thuần chủng

Giống chó Labrador Retriever có 2 giống là Lab Anh và Lab Mỹ. Trên thế giới thì Lab Mỹ phổ biến và có số lượng vượt trội hơn cả. Labrador cả 2 giống đều có thân hình dài, chắc khỏe và cơ bắp. Chiều cao phổ biến từ 50 – 60cm, cân nặng từ 25 – 35kg. Đầu chúng rộng, mõm dài dài vuông vức, răng sắc nhọn và hàm rất khỏe, có khả năng tha những con mồi lớn. Mũi chúng rất lớn, có màu đen hoặc màu socola và cực kỳ nhạy mùi, có thể phát hiện ra mùi con mồi từ hàng trăm mét, đây là đặc điểm chung của hầu hết giống chó Retriever.

Tai Lab dài và luôn cụp ở 2 bên đầu. Mắt chúng màu nâu đen hoặc màu hạt dẻ. Cổ chúng dày, gân guốc và rất mạnh mẽ. Cơ bắp ở đùi, hông và ngực rất phát triển, thêm vào đó cấu trúc xương các chi rất chắc chắn giúp chúng có khả năng bứt phá về tốc độ. Giữa các ngón chân có một lớp màng mỏng nên chúng có thể bơi lội dễ dàng, đây là đặc điểm được những người đi biển rất yêu thích ở giống chó này. Ở châu Âu hiện nay, chó Lab vẫn phục vụ trên các chuyến tàu cá cho những chuyến đi biển dài ngày.

Lông lab ngắn, bó sát da và cứng. Lông có 3 màu phổ biến nhất là socola, đen và vàng, màu vàng là phổ biến hơn cả. Ngoài ra còn có màu lông rất hiếm gặp khác là màu bạc và xám, tuy nhiên không được công nhận là Lab thuần chủng. Lông Lab có 2 lớp, lớp ngoài thô cứng, lớp bên trong rất dày, mềm và hoàn toàn không thấm nước, vừa giúp chúng giữ nhiệt tốt, vừa giúp chúng bơi lội hoàn hảo trong môi trường lạnh giá. Chó Lab không cẩn phải chăm sóc lông nhiều, tuy nhiên chúng rụng lông vào mùa xuân và hè nên việc dọn dẹp khá vất vả vào thời gian này.

Labrador cũng nổi tiếng là giống chó khỏe mạnh, chúng hầu như không gặp phải các bệnh di truyền đặc trưng do trước khi được phát hiện ở Newfoundland, giống chó này đã trải qua nhiều thế hệ trọn lọc tự nhiên giúp loại bỏ các gen lỗi, chỉ để lại các cá thể khỏe mạnh nhất, thích nghi tốt nhất với môi trường khí hậu khắc nhiệt của Newfoundland. Nếu được chăm sóc tốt, Labrador có thể sống tới 12 năm.

Labrador nổi tiếng là giống chó thông minh, nhanh nhẹn và đặc biệt trung thành. Một chú Labrador thường chỉ trung thành với một người chủ duy nhất (thường là người nuôi chúng lớn). Đây là giống chó rất tình cảm, chúng có thể phải trải qua một khoảng thời gian bị sốc và rất khó khăn nếu phải đổi chủ khi đã trưởng thành. Chúng cũng là giống chó rất chăm chỉ và tận tụy trong công việc (từ “Labrador” xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là “người giúp việc chăm chỉ”).

Labrador thất thân thiện và gần gũi với con người, số vụ Lab tấn công người vô cớ trên thế giới được ghi nhận trong 10 năm qua chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các vụ tấn công chủ yếu là do bị khiêu khích, xâm phạm tài sản cá nhân hoặc tấn công chủ của chúng. Lab là giống chó cực kỳ đáng tin cậy khi cho chơi cùng trẻ nhỏ và các vật nuôi khác, chúng chung sống hòa thuận và hiếm khi xảy ra đánh nhau. Vì những phẩm chất tuyệt vời này mà trong suốt nhiều thập kỷ, Labrador Retriever luôn là giống chó được nuôi nhiều nhất trên thế giới, ( vị trí thứ 2 thuộc về người anh em họ thân thiết nhất của chúng, chó Golden Retriever).

Nuôi chó Labrador nên để chúng được vận động thường xuyên, do đây là giống chó lao động mạnh mẽ, chúng luôn thừa năng lượng, thích được làm việc và chạy nhảy. Nên dành thời gian ít nhất nửa tiếng mỗi ngày để cho chúng đi dạo, chạy hoặc chơi các môn thể thao như bắt bóng, bắt gậy, bắt đĩa trên không hoặc bơi. Lab rất ngoan nên nếu không được chơi đùa thường xuyên, chúng cũng không có biểu hiện phá phách, sủa dai dẳng hay cắn xé như nhiều giống chó lao động khác.

Tìm Hiểu Thông Tin Và Cách Nuôi Giống Chó Labrador Thuần Chủng Ở Việt Nam

Lịch sử giống chó Labrador Retriever

Giống chó Labrador Retriver có tổ tiên là Greater Newfoundland, cũng là tổ tiên của giống chó Newfoundland của Canada ngày nay. Greater Newfoundland có một dòng nhỏ hơn gọi là Lesser Newfoundland, hay còn gọi là chó St. John (St. John’s dog) – tổ tiên trực tiếp của chó Labrador hiện đại. St. Johb’s là tổ tiên của 4 giống chó họ Retriever ngày nay là Flat-Coated Retriever, Chesapeake Bay Retriever, Golden Retriever và Labrador Retriever. Trong đó, chó Labrador được cho là gần như nguyên bản và giữ lại được nhiều đặc điểm của chó cổ St. John nhất.

Những chú chó Labrador đầu tiên được nhập khẩu từ Newfoundland vào châu Âu vào năm 1830. Giới quý tộc nhanh chóng phát hiện ra giống chó này rất giỏi trong việc tìm kiếm phát hiện con mồi và tha những con mồi lớn về cho chủ, nhất là các con mồi ở những vùng ngập nước, nên được nhân giống rộng rãi làm chó săn cho giới quý tộc. Chúng cũng thường được sử dụng trên các tàu cá ở châu Âu, nhất là trong các đoàn tàu cá của ngư dân Bồ Đào Nha.

Trong suốt thế kỷ 18 và 19, chó Labrador rất được các thủy thủ trên các tàu cá ưa chuộng do chúng mạnh mẽ, chăm chỉ, rất đáng tin cậy và dễ huấn luyện. Chúng có thể phụ giúp việc kéo lưới trên thuyền, thậm chí có thể nhảy xuống nước biển lạnh để lùa cá vào lưới và gỡ lưới, sau khi cập bến, chúng còn giúp các thủy thủ kéo lưới và cá về nhà. Đặc điểm của chó Labrador cũng thích nghi hoàn hảo với khí hậu lạnh ở biển Đại Tây Dương và việc lênh đênh trên các tàu cá nhiều ngày trời.

Đến gần cuối thế kỷ 19, vào những năm 1880, chính quyền Newfoundland (Canada) ra đời và chú trọng phát triển ngành chăn cừu. Những chú Labrador Retriever là mối đe dọa lớn nhất với các đàn cừu nên đã ra luật mỗi gia đình chỉ được sở hữu 1 chú chó Lab, và phải đóng thuế cho chó Lab cái. Thêm vào đó, chính phủ Anh thời kỳ này ra luật rất khắt khe với những chú chó ngoại nhập như phải có giấy phép nhập chó, phải đóng thuế cao và phải giữ lại ít nhất nửa năm để theo dõi trước khi được về nhà do lo sợ các bệnh ngoại lai lây nhiễm trên chó bản địa.

Chính vì những đạo luật khắt khe này nên chó Labrador gần như đã tuyệt chủng ở Newfoundland và cũng rất hiếm xuất hiện ở Anh cũng như các nước châu Âu khác vào cuối thế kỷ 19 và đầu 20. Để bảo tồn giống, những chú chó Lab còn lại buộc phải cho lai với các giống chó khác ở châu Âu như Setter, Spaniel,… Vì vậy chó Labrador Retriever ngày nay khác nhiều so với tổ tiên của chúng. Những cuộc tình ngang trái giữa Lab nguyên thủy và các giống chó châu Âu cũng cho ra đời những giống chó Retriever khác, trong đó có người anh em rất gần gũi Golden Retriever.

Trong những năm 20 và 30, chó Labrador được nhập khẩu rất nhiều vào Mỹ và bắt đầu thời kỳ “bùng nổ dân số” của chó Lab. Với những đặc điểm tính cách đặc biệt thích hợp để làm chó nuôi bầu bạn trong gia đình, chó Lab nhanh chóng trở nên rất phổ biến tại Mỹ và hiện là giống chó được nuôi nhiều nhất trong các gia đình Mỹ. Ngoài làm thú cưng, chó Lab cũng được huấn luyện nghiệp vụ để đánh hơi chất nổ, ma túy, tìm kiếm đồ vật, canh gác và giúp đỡ người mù.

Đặc điểm chó Labrador Retriever thuần chủng

Giống chó Labrador Retriever có 2 giống là Lab Anh và Lab Mỹ. Trên thế giới thì Lab Mỹ phổ biến và có số lượng vượt trội hơn cả. Labrador cả 2 giống đều có thân hình dài, chắc khỏe và cơ bắp. Chiều cao phổ biến từ 50 – 60cm, cân nặng từ 25 – 35kg. Đầu chúng rộng, mõm dài dài vuông vức, răng sắc nhọn và hàm rất khỏe, có khả năng tha những con mồi lớn. Mũi chúng rất lớn, có màu đen hoặc màu socola và cực kỳ nhạy mùi, có thể phát hiện ra mùi con mồi từ hàng trăm mét, đây là đặc điểm chung của hầu hết giống chó Retriever.

Tai Lab dài và luôn cụp ở 2 bên đầu. Mắt chúng màu nâu đen hoặc màu hạt dẻ. Cổ chúng dày, gân guốc và rất mạnh mẽ. Cơ bắp ở đùi, hông và ngực rất phát triển, thêm vào đó cấu trúc xương các chi rất chắc chắn giúp chúng có khả năng bứt phá về tốc độ. Giữa các ngón chân có một lớp màng mỏng nên chúng có thể bơi lội dễ dàng, đây là đặc điểm được những người đi biển rất yêu thích ở giống chó này. Ở châu Âu hiện nay, chó Lab vẫn phục vụ trên các chuyến tàu cá cho những chuyến đi biển dài ngày.

Lông lab ngắn, bó sát da và cứng. Lông có 3 màu phổ biến nhất là socola, đen và vàng, màu vàng là phổ biến hơn cả. Ngoài ra còn có màu lông rất hiếm gặp khác là màu bạc và xám, tuy nhiên không được công nhận là Lab thuần chủng. Lông Lab có 2 lớp, lớp ngoài thô cứng, lớp bên trong rất dày, mềm và hoàn toàn không thấm nước, vừa giúp chúng giữ nhiệt tốt, vừa giúp chúng bơi lội hoàn hảo trong môi trường lạnh giá. Chó Lab không cẩn phải chăm sóc lông nhiều, tuy nhiên chúng rụng lông vào mùa xuân và hè nên việc dọn dẹp khá vất vả vào thời gian này.

Labrador cũng nổi tiếng là giống chó khỏe mạnh, chúng hầu như không gặp phải các bệnh di truyền đặc trưng do trước khi được phát hiện ở Newfoundland, giống chó này đã trải qua nhiều thế hệ trọn lọc tự nhiên giúp loại bỏ các gen lỗi, chỉ để lại các cá thể khỏe mạnh nhất, thích nghi tốt nhất với môi trường khí hậu khắc nhiệt của Newfoundland. Nếu được chăm sóc tốt, Labrador có thể sống tới 12 năm.

Tính cách chó Labrador

Labrador nổi tiếng là giống chó thông minh, nhanh nhẹn và đặc biệt trung thành. Một chú Labrador thường chỉ trung thành với một người chủ duy nhất (thường là người nuôi chúng lớn). Đây là giống chó rất tình cảm, chúng có thể phải trải qua một khoảng thời gian bị sốc và rất khó khăn nếu phải đổi chủ khi đã trưởng thành. Chúng cũng là giống chó rất chăm chỉ và tận tụy trong công việc (từ “Labrador” xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là “người giúp việc chăm chỉ”).

Labrador thất thân thiện và gần gũi với con người, số vụ Lab tấn công người vô cớ trên thế giới được ghi nhận trong 10 năm qua chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các vụ tấn công chủ yếu là do bị khiêu khích, xâm phạm tài sản cá nhân hoặc tấn công chủ của chúng. Lab là giống chó cực kỳ đáng tin cậy khi cho chơi cùng trẻ nhỏ và các vật nuôi khác, chúng chung sống hòa thuận và hiếm khi xảy ra đánh nhau. Vì những phẩm chất tuyệt vời này mà trong suốt nhiều thập kỷ, Labrador Retriever luôn là giống chó được nuôi nhiều nhất trên thế giới, ( vị trí thứ 2 thuộc về người anh em họ thân thiết nhất của chúng, chó Golden Retriever).

Nuôi chó Labrador nên để chúng được vận động thường xuyên, do đây là giống chó lao động mạnh mẽ, chúng luôn thừa năng lượng, thích được làm việc và chạy nhảy. Nên dành thời gian ít nhất nửa tiếng mỗi ngày để cho chúng đi dạo, chạy hoặc chơi các môn thể thao như bắt bóng, bắt gậy, bắt đĩa trên không hoặc bơi. Lab rất ngoan nên nếu không được chơi đùa thường xuyên, chúng cũng không có biểu hiện phá phách, sủa dai dẳng hay cắn xé như nhiều giống chó lao động khác.

Chó Labrador là họ hàng gần nhất của chó Golden Retriever nên cách nuôi 2 giống này gần như giống nhau

Một Số Giống Chó Quý Ở Việt Nam

Chó là con vật có tình có nghĩa và cũng nhận được tình cảm nhiều nhất từ con người, nó được xem là biểu tượng của lòng trung thành “chó không chê chủ nghèo”…

Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi cách nay khoảng 5-6 ngàn năm. Trong văn hóa tâm linh của một số dân tộc, chó gắn bó thủy chung với con người nói chung và chủ nói riêng và chó được thờ cúng ở các đình đền miếu mạo. Ngày nay, chó được nuôi với nhiều mục đích khác nhau nhưng giữa người chủ và con vật vẫn có tình cảm hết sức gần gũi. Chuyên đề này chúng tôi giới thiệu 4 giống chó bản địa quý nhất ở nước ta.

Chó Bắc Hà là giống chó xuất hiện và được sử dụng khá sớm trong cuộc sống của những người dân Việt Nam. Đây là giống chó bản địa sinh sống tại vùng Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Lâu nay, nó được biết đến với tên gọi chung là chó xù hay chó xồm và thường được dùng làm chó săn, chó canh gác, giữ nhà… Chó Bắc Hà là giống chó có kích thước trung bình, nặng 19-26kg với chó đực và từ 16-23 kg với chó cái. Đôi tai chó Bắc Hà vểnh, đuôi xù (đuôi bông, dạng đuôi sóc) xoăn cuộn trên lưng hoặc buông thõng xuống quá kheo chân. Chó có lông cổ và vai dài tạo thành bờm cổ cách biệt với lông trên thân. Màu lông khác nhau như trắng, đen, vàng, vện, xám, khoang…

Chó Bắc Hà là giống chó thông minh, ham huấn luyện, rất kỹ luật và thân thiện với các thành viên trong gia đình.

Chó H’Mông cộc đuôi là một giống chó bản địa cổ xưa của người dân tộc H’Mông ở vùng miền núi phía Bắc nước ta. Từ xưa giống chó này đã được sử dụng làm chó săn, chó canh gác và hiện tại vẫn tiếp tục đảm nhiệm khá tốt các vai trò này. Chó H’Mông cộc đuôi có khả năng thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau một cách rất mềm dẻo. Chó H’Mông cộc đuôi có tầm vóc trung bình, toàn thân cơ bắp và đậm chắc, đầu to và ánh mắt biểu cảm. Giống chó này có một trí nhớ tốt, do đó, có khả năng tiếp thu các bài huấn luyện dễ dàng và rất nhanh ngay từ khi còn nhỏ.

Đây là giống chó nguyên thủy đặc trưng tại các vùng trung du và miền núi của Việt Nam. Hiện tại giống này đang được người dân vùng cao tại Việt Nam nuôi dải rác khắp các vùng lãnh thổ có những con sông lớn chảy qua. Chó Dingo tại Việt Nam chủ yếu được người dân nuôi trông nhà hay đi rừng… Đặc điểm dễ nhận biết với loài này nếu là thuần chủng phải có “4 chân đi bít tất trắng, đuôi bông lau và chóp đuôi trắng”. Chó Dingo Đông Dương nếu được nuôi từ nhỏ, nó là một giống chó rất kỷ luật và đặc biệt trung thành và rất quấn chủ.

Chó Phú Quốc rất gần gũi và thân thiện với chủ, người lạ dễ làm quen. Giống chó này rất thích săn thú và săn rất giỏi. Tuy chó có kích thước trung bình nhưng là giống chó nổi tiếng được người dân đảo Phú Quốc (Kiên Giang) sử dụng trong việc săn bắt từ hàng trăm năm nay. Đa số chó Phú Quốc có bộ lông sát và ngắn. Xoáy trên lưng là một đặc tính quan trọng để nhận biết chó Phú Quốc. Điểm nổi bật của chó Phú Quốc là thể lực dẻo dai, tốc độ nhanh, di chuyển linh hoạt, biết leo trèo, nhảy cao, bơi lội, khả năng phối hợp tác chiến bầy đàn tốt. Chó Phú Quốc rất trung thành với chủ, luôn tuân theo mọi mệnh lệnh của chủ. Trong các chuyến đi săn, nhiều con chó Phú Quốc đã liều mình cứu chủ thoát khỏi rắn độc cắn. Ngoải ra nó còn có khả năng quan tâm đến chủ khi chủ ốm

Các Giống Chó Thường Được Nuôi Ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam có 4 giống chó đang được nuôi và cho lai với nhau tạo ra nhiều con lai khác nhau có tầm vóc và màu lông khác nhau. Giống chó vàng tuyền là một nòi chó săn rất tinh khôn, tích cực bám mồi, dũng cảm và trung thành với chủ và cũng là loài chó giữ nhà rất tốt. Giống chó của người H’Mông cũng có khả năng săn thú giữ nhà tốt, tầm vóc to tạo khả năng lai tạo với giống chó chăn cừu Châu Âu.

1.2 Giống chó H’Mông. Sống ở miền núi cao, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng. Cao 55-60 cm, nặng 18-20kg, được dùng để giữ nhà và săn thú. Chó cái đẻ trung bình mỗi lứa 6 con.

1.3 Giống chó Lào.

Sống ở trung du và miền núi, lông xồm màu hung có 2 vệt trắng trên mí mắt, có tầm vóc lớn hơn, cao 60-65 cm, nặng 18-25 kg. Chó cái đẻ trung bình mỗi lứa 6 con.

II. Giống chó nhập nội đã được nuôi thích nghi ở Việt Nam.

Chó nhập từ nước ngoài vào nước ta thường có chất lượng con giống rất tốt, được coi là thuần chủng hơn chó nuôi sinh sản trong nước cùng chủng loại. Tuy nhiên, chó nhập nội thường gặp một số khó khăn như trong quá trình mua, nuôi dưỡng, vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam làm chó bị mệt. Chó bị thay đổi lớn về chế độ ăn,chăm sóc, thời tiết, môi trường nên có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Để khắc phục những yếu tố này những người nuôi chó nhập nội cần tuân thủ những nguyên tắc sau khi mới mua chó về : Chế độ ăn uống và dinh dưỡng phải tuân theo sự chỉ dẫn của người môi giới mua bán chó vì họ đã hiểu rõ nguồn góc và tập tính của từng giống chó. Chú ý không cho chó ăn quá no, nhưng nên cho chó ăn nhiều bữa. Cần đảm bảo vệ sinh sạch sẽ ở mọi khâu nuôi dưỡng và chăm sóc, không để chó ăn đất cát, uống nước bẩn. Cần nhốt chó 7-10 ngày trong chuồng hoặc cũi chó sạch sẽ, tuyệt đối không cho chó ra ngoài sân vườn. Chỗ ở mới của chó phải đảm bảo mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, không bị gió lùa, nắng chói,mưa hắt. Cần thực hiện việc tẩy giun sán và tiêm phòng bệnh bằng vacxin cho chó theo định kỳ. Theo dõi chặt chẽ tình hình sức khỏe của chó( nhiệt độ. phân, nước mũi, mắt và ăn uống…) và thông báo kịp thời chó bác sỹ thú y. Luôn gần gũi với chó, không nên để chó một mình, tránh stress ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm lý của chó trong quá trình nuôi sau này. Hiện nay, ở nước ta đã nhập vào rất nhiều giống chó nuôi làm cảnh, giữ gìn , làm vệ sỹ… nhưng ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số giống chó tiêu biểu như sau:

2.1) Giống chó becgie Đức ( Berger) .

Chó chăn cừu Becgie Đức đẹp và thông minh, đánh hơi giỏi, luôn vui tươi, tự tin, dũng cảm và trung thành. Chúng năng động và cần được bận rộn. Nếu bị bỏ một mình hoặc buồn chán nó có thể than vãn rên rỉ liên tục. Giống chó này nếu được nuôi dưỡng tốt,dạy tốt sẽ là con thú cưng tuyệt vời, chiếm được cảm tình lớn nhất của những người yêu thích chó ở nước ta và trên toàn thế giới, Ở Việt Nam hiện nay, khắp mọi nơi, mọi vùng đều thấy chó con lai Becgie Đức. Giống chó này vẫn được quan tâm nhất trong việc chơi, sử dụng và đặc biệt quan trọng nhất đối với những người kinh doanh hoặc là kinh tế từu chó ( chăn nuôi, mua bán cho).

2.2) Giống chó Dalmantian.

Giống chó này thường được gọi là bánh Pudding nhân nho khô vì bộ lông đốm của chúng. Loài chó này rất thông minh, năng động, thân hình rắn chắc, cường tráng, có sức chịu đựng rất bền bỉ, tôn trọng mệnh lệnh của chủ, thần kinh cân bằng, được sử dụng vào mục đích thể thao và đa số chúng được nuôi làm thú cưng tốt mã và tốt bụng trong gia đình.

Chó có tầm vóc trung bình cao: cao 56-61 cm, dài 112-113cm, nặng 32kg. Bộ lông màu trắng mịn với những đốm đen trang điểm; lúc còn chó con bộ lông trắng tuyền, khi lớn lên mới có các đốm đen; cổ dài; lưng thẳng có độ nghiêng về phía sau; chân cao thẳng, chân sau có khoeo giống khoeo mèo; đuôi dài.

Chó đực có thể phối giống lúc 25-28 tháng tuổi, chó cái sinh sản khi được 20-22 tháng tuổi, mỗi lứa đẻ 5-10 con.

2.3) Giống chó Borzoi.

Đây là giống chó săn lâu đời của nước nga, rất trang nghiêm, thích chạy phi, dịu dàng và trầm tĩnh nhưng lại đầy năng lực. Loài chó này được nhập về Việt Nam để nuôi làm cảnh và giữ nhà, thường được gọi là chó “ngao xù” vì có bộ lông xù dài. Chó có tầm vóc trung bình, cao 63-74 cm, dài 110-112 cm, nặng 33kg. Giống chó này dùng làm chó triễn lãm thì tuyệt nhưng ít thành công ở các cuộc thi đua hay ứng xử phục tùng dù có thể huấn luyện chúng làm chó kiểng khá dễ dàng. Bộ lông xù dài của chúng có nhiều màu khác nhau,có thể là màu trắng xem lẫn các mảng nâu sẫm và vàng, có khi toàn thân màu trắng nhưng mặt có màu vàng nâu. Đầu dài thô, mõm nhọn dài, tai cụp, cổ dài, ngực nở sâu, lưng thẳng có độ nghiêng về cuối thân ,chân trước cao thẳng đứng, chân sau choãi về phía sau, khoeo có hình khoeo mèo.

Giống chó này chắc khỏe, dễ điều khiển, thân thiện với gia đình, trẻ em nhưng ghét người lạ.

Chó đực có thể phối giống lúc 24-26 tháng tuổi, chó cái có thể sinh sản ở lứa tuổi 18-20 tháng,chó cái đẻ mỗi lứa từ 4-7 con.

2.4) Giống chó Cavalier-King Charles Spariel (Spaniel).

Giống chó này được nuôi để ắm bế, nổi tiếng từ năm 400 năm nay. Đặc biệt nó có khả năng săn thú nhỏ. Chúng rất thân thiện nếu được đối xử nhẹ nhàng, thích chơi đùa và thích đi bộ thật lâu dù không cần vận động nhiều. Chó có tầm vóc nhỏ, cao 36cm, năng 5-8kh, tính tình dịu dàng, lúc nào cũng vẫy đuôi và ít ồn ào. Bộ lông mượt mà của chúng không bao giờ cần xén tỉa mà chỉ cần được chải hàng ngày để giữu cho sạch sẽ. Giống chó này có bộ lông màu đen và nâu vang, đỏ tuyền, tam thể hay đỏ pha trắng, có con lông xù màu nâu sẫm xen các mảng nâu nhạt ở đầu và thân; trán quanh mõm, ngực và 4 chân màu trắng. Đầu dài thô mỗm rộng,tai dài rộng và cụp, mắt to tròn, mũi phân thùy màu đen hoặc nâu,cổ thẳng, ngực nở sâu , bụng thon, đuôi cộc, bàn chân chụm.

Chó có thân hình rắn chắc và ra sức, thần kinh cân bằng nhưng rất hung dữ và dũng cảm khi tấn công kẻ địch.

Chó đực có thể phối giống lúc 20 tháng tuôi, chó cái có thể sinh sản lúc 16tháng tuổi. Chó cái đẻ mỗi lứa từ 3-6 con.

2.5) Giống chó Papillon.

Papillon là giống chó thông minh, tình cảm, thích đùa giỡn. Chó có bộ lông dài xù màu đỏ, đen hay tam thể trên nền trắng, lượn song màu hạt dẻ, đôi khi có màu vàng sẫm hoặc màu trắng sữa. Cái đuôi lông xù của nó vắt trên lưng nên người ta gọi là ” Spaniel đuôi sóc”. Bộ lông dài cần được chải hàng ngày để không bị rối.

Giống chó này có hình dạng rất ngộ nghĩnh: đầu to. Mõm rộng và rất ngắn hầu như liền tịt với mũi, mũi rộng chia thùy,tai to có lông dài phủ xuống hai bên, hoặc mắt to đen hoặc nâu sẫm, 4 chân thấp lùn. Ngoài ra còn có một giống chó Papillon khác có tai cụp gọi là Phalene.

Chó có tầm vóc nhỏ, thấp lùn, cao 20cm, dài 38cm, nặng 5,0- 5,5 kg.

Bộ lông ngắn của giống chó này không cần chải nhiều, màu hung và mặt đen hoặc đen láng toàn thân hoặc nâu nhạt, vàng sẫm nhưng khoang mắt, mũi, mõm có màu đen. Loài chó Pug khỏe mạng , thần kinh cân bằng, đầu to thô, mõm ngắn và thô, mũi chia thùy, tai cụp, ngực sâu, thân chắc rắn, đuôi ngắn và cuộn. Chóa cao 30-33cm, dài 50-55cm, nặng 5-8kg. Giống chó này hay bị thương ở mắt nên khi nuôi cần lưu ý.

Ở nước ta , giống chó này còn được gọi là “cho fok hươu” vì hình dáng nó giống con hươu thu nhỏ hoặc còn gọi là “chó bỏ túi” vì chó tầm vóc rất nhỏ, chỉ nặng 2,1-2,7 kg, cao 16-20 cm, dài 30cm, người ta có thể cho vào túi ba lo mang đi du lịch.

Bộ lông của giống chó này có màu vàng sẫm, hoặc màu nâu nhạt nhưng tai, mõm thường có màu sẫm hơn. Chó đực có thể phối giống khi 14 tháng tuổi, chó cái có thể sinh sản khi được 9-10 tháng tuổi, mỗi lứa đẻ 3-6 con.

Loài chó này khỏe mạnh, mỗm dài, tai dài dựng đứng, bụng thon nhỉ, chân mảnh chắc, đuôi ngắn, không thích người lạ, thậm chí tỏ ra hung dữ nên nuôi vừa làm cảnh vừa giữ nhà rất tốt.

2.8) Giống chó Bichon fries.

Có nguồn gốc từ Pháp, ở nước ta được nuôi làm cảnh cũng từ lâu và người ta gọi nhầm là ” chó xù Nhật”, chó có tầm vóc nhỏ, cao 30cm, dài 40cm, nặng 5,0 kg. Bộ lông của nó xù dài thẳng hoặc lượn song, trắng tuyền, đặc biệt lông ở tai và cổ, đuôi thường dài hơn nên trông rất quý phái. Đây là loài chó thông minh, hiền lành, yêu mến trẻ em, thích hợp nuôi ở thành thị. Đầu ngắn, mõm dài, tai cụp, cổ ngắn, ngực nở, chân thấp, đuôi cong.

2.9) Giống Pekingese.

Có nguồn gốc từ bắc kinh được nhập vào nước ta năm 1986, Từ thế kỷ 19 chó đã được du nhập vào Châu Âu và được nuôi làm cảnh trong các gia đình quý tộc. Giống chó này có hình dạng rất ngộ nghĩnh, đầu to, mõm rộng và rất ngắn nhuw liền tịt với mũi, tai to có lông dài phủ xuống 2 bên, mắt to đen hoặc nâu sẫm, 4 chân thấp lùn. Loài chó này có bộ lông xù dài lượn song màu hạt dẻ, có màu vàng sẫm hoặc trắng sữa.

2.10) Giống Shi Tzu.

Giống chó này có vẻ mặt dịu dàng , bộ lông dài ống ả và bản tính vui tươi. Bộ lông của chúng cần được chăm sóc nhiều, nếu không sẽ bị rối và có mùi hôi. Shi Tzu là giống chó luôn thích chơi đùa và đầy tình cảm. Bộ lông của chúng có màu rất đa dạng, nhưng nếu có một vết trắng sáng bóng trên trán và chỏm đuôi màu trắng thì sẽ được đánh giá cao. Chó Shi Tzu cần được vận động vừa phải và có thể thích đuổi theo một quả bóng. Chúng thích chơi đùa và sẽ tham gia chơi hết mình vào bất cứ trò chơi nào. Chúng có mũi ngắn, mắt to nên dễ bị thương do va chạm trầy sước, nên khi nuôi giống này cần phải kiểm tra mắt hàng ngày.

2.11) Giống Miniature Schnauzer.

Giống chó này bé xíu và thích sống ngoài trời. Tuy nhiên, nó cũng bằng lòng với cuộc sống trong nhà ở thành thị. Đây là một giống chó khỏe mạnh, lông thô, cứng, lông mặt dài và lông mày rậm. Là giống chó thông minh và lanh lẹ, là bạn trung thành và là thú cưng cho gia đình. Dù nhỏ con, chúng đủ dẻo dai để chơi những trò tốn sức và đủ vững chãi để làm bạn tốt với người già. Giống chó này phải được cắt tỉa lông thường xuyên, lông mặt, lông mày phải được giữ sạch sẽ để khỏi hôi hám. Lông và cẳng phải được chải mỗi ngày. Lông của chúng đen tuyền hoặc muối tiêu, một pha trộn giữa các màu xám, đen và trắng.

2.12) Giống chó Alaskan Malamute

Miền Bắc Cực băng giá quanh năm tuyết phủ là một vùng lãnh thổ vô cùng rộng lớn. Dân Esquimo là người đầu tiên đặt chân lên vùng đất này; trong đó có bộ tộc Mahlemut, vốn nổi tiếng với giống bò xạ hương và giống chó sói được đặt tên theo bộ tộc là Malamute và tồn tại đến ngày nay.

Đã từ rất lâu, dân du mục ở đây đã khám phá ra khả năng di chuyển và sức kéo mãnh liệt của chúng trên những quãng đường dài đầy băng tuyết trơn trượt … Họ đã cho lai tạo với những giống khác như Newfoundland hoặc St Bernard để có được gống chó ngày càng to hơn, khoẻ hơn, bền bỉ hơn mà vẫn chịu được thời tiết khắc nghiệt của Bắc Cực. Dân Eskimo rất tự hào về giống chó của họ vì không một giống chó nào có thể thay thế được nhiệm vụ hoàn thành tốt quãng đường hằng ngàn dặm phải vượt qua. Bất kỳ du khách nào khi đến đây đều được nghe kể về giống chó Alaskan Malamute tuyệt vời này.

Những bài tập đối với chó trưởng thành là rất khắc khe để bảo đảm cho sức khoẻ và tinh thần của chúng luôn được hưng phấn. Nếu có điều kiện , thỉnh thoảng chúng ta nên đưa chúng đến những vùng ven rộng mát hoặc biển cát mênh mông để chúng thoả thích chạy nhảy .

Tính cách: Thông minh, hiền hoà, bao dung. Dù cái hay đực, Alaskan Malamute luôn biết vâng lời và chịu khó tập luyện. Đặc biệt rất thích trẻ con. Alaskan Malamute không có thói quen nhặt bóng hay tha đồ vật như một số giống chó săn khác do từ cổ xưa, mục đích của dân Esquimo không sử dụng chúng trong săn bắt mồi mà chỉ để kéo xe nên bản tính săn mồi trong chúng rất ít.

Sự thân thiện, hồn nhiên của Alaskan Malamute được nhiều người yêu thích làm thú cảnh trong gia đình. Chúng có thể tự đi rất xa mà vẫn tìm được đường về. Theo nghiên cứu thì do tập tục sống thành bầy đàn, nên khi nuôi trong gia đình, Alaskan Malamute rất biết nghe lời chủ bởi chúng coi chủ như con đầu đàn, luôn phục tùng và luôn có khuynh hướng sẵn sàng bảo vệ bầy đàn của mình khi bị tấn công hay bị xâm phạm.

Khả năng: Ngày nay Alaskan Malamute chủ yếu được nuôi ở miền Bắc Cực băng giá và những vùng có tuyết phủ quanh năm. Việc di chuyển trên tuyết trong không gian rộng lớn thì không con vật nào có thể sánh bằng Alaskan Malamute.

Hằng năm tại Canada, Mỹ và một số nước khác thường tổ chức những cuộc đua mang tính chất thể thao nhằm đáp ứng đà phát triển giống chó kéo tuyết này. Tại một số thành phố hay nông trại, người nuôi cũng có mục đích tương tự nhưng những “xe tuyết” được gắn bánh hơi để thồ nông sản và những vật dụng khác thay cho ngựa.

Alaskan Malamute là giống chó cực kỳ thông minh nên có khả năng học tập rất nhanh và rất biết vâng lời. Việc huấn luyện đương nhiên phải giao cho người có kinh nghiệm và lương tâm. Bản chất rất tò mò và vô cùng hiếu động nên Malamute rất thích được lao động.

Không gì chúng thích bằng khi được kéo một vật gì đó trên một đoạn đường dài ( chung với bầy đàn càng tốt ). Bạn hãy thử buộc chúng vào xe gắn máy bằng một sợi xích dài khoảng 1 mét. Ban đầu bạn cho xe khởi động ở tốc độ khoảng 15km/giờ. Sau khi con Malamute của bạn đã làm quen với tốc độ “nước kiệu”, bạn hãy mạnh dạn tắt máy xe và cho nó kéo tự do một đoạn đường khoảng vài cây số . . . Chắc chắn bạn sẽ vui sướng khi được điều khiển chú chó cưng như ý của mình và hơn thế nữa, con Malamute cũng sẽ vui sướng gấp nhiều lần vì được lao động.

Nguồn gốc: Alaskan Malamute đã được phát triển ở Alaska từ rất lâu đời, trước khi Alaska trở thành 1 bang của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và ngẫu nhiên thì chúng trở thành một giống chó Mỹ. Khi những người Nga khám phá ra vùng Bắc Cực băng giá này họ cũng có nói đến giống chó Malamute này để so sánh với giống Siberian Husky của họ .

Tiêu chuẩn: Không giới hạn về kích cở nhưng hiện nay theo tiêu chuẩn được AKC (American Kennel Club ) ghi nhận thì chiều cao từ 58 cm đến 71 cm (23 – 28 inc). Cân nặng từ 39 kg đến 56 kg (85 – 125 lb ).

Đặc điểm: Xương chân lớn rất cơ bắp. Cặp mắt màu nâu , nâu đen hình quả hạnh rất thân thiện, vui, thậm chí nghịch ngợm. Tai nhỏ đầy lông tơ. Bộ lông dày giúp giữ thân nhiệt chịu đựng cái lạnh khủng khiếp của miền Bắc Cực băng giá quanh năm. Con cái đặc biệt nhỏ hơn con đực. Màu lông Alaskan Malamute đa dạng : xám & trắng, xám lông chồn & trắng, đen & trắng hoặc toàn thân trắng. Sắc lông đỏ rất quý hiếm được AKC chấp nhận và không được phép mang ra khỏi nước Mỹ. Quy định mới nhất của AKC loại ra khỏi giống nòi những con nào có cặp mắt màu xanh, vì cho là dấu hiệu của lai tạo giống.

Nguồn gốc Vào thế kỷ 19 tại vùng Staffordshire của Anh quốc việc lai tạo giống chó Bull với nhiều loại chó terrier đã tạo nên giống chó lực lưỡng, tích cực và đầy tính chiến đấu Bull Terrier. Được du nhập vào Mỹ, giống chó này được các nhà chọn giống đánh giá cao và quyết định chọn lọc theo hướng tăng chiều cao, cân nặng và kích thước đầu. Hiện nay chúng được công nhận như một giống chó riêng biệt, có kích thước to và lớn hơn so với người bà con ở Anh. Sau khi các cuộc đấu chó bị cấm tại Mỹ vào năm 1900, giống chó này được chia làm 2 nhóm, nhóm chó triển lãm và nhóm chiến đấu. Nhóm triển lãm được gọi là American Staffordshire, nhóm chiến đấu gọi là American Pit Bull Terrier. AS chủ yếu được sử dụng trong việc canh giữ, bảo vệ, cảnh sát, và kéo vật nặng.

Mô tả: Là giống chó có cơ bắp rất phát triển, chắc lẳn, nhanh nhẹn và đặc biệt mạnh mẽ so với vóc dáng của chúng. Chúng có đầu to, khoẻ mạnh, mõm ngắn và hàm khoẻ cứng như thép. Tai thường bị kiền lại từ nhỏ. Mắt tròn, đen. Răng khoẻ và sắc xếp thành hình răng cưa. Lông ngắn, dày và bóng mượt. lông có nhiều màu khác nhau, nhưng phần lông màu trắng không được chiếm hơn 80%. Đuôi thon nhọn về chóp. Tai dựng đứng. Tiếng Anh gọi là chó Pit Bull Terrier Mỹ.

Tính cách là giống chó vui vẻ, hoà đồng, kiên định và đáng tin cậy. Thông minh và yêu quí loài người. Đây là giống chó đặc biệt trung thành và yêu quí gia chủ. Yêu trẻ. Chúng luôn tìm cách để làm vừa lòng chủ nhân. Đây là thành quả của hơn 50 năm lai tạo giống, đã tạo ra giống chó thân thiện, tin cậy và đặc biệt yêu quí trẻ này. Chúng cũng là người sẵn sàng can đảm chiến đấu để bảo vệ chủ và tài sản được giao phó cho đến cùng. Giống chó này có sức đề kháng rất cao với mọi vết thương. Nếu không được dạy dỗ chu đáo, chúng có thể trở nên rất hung dữ. Tương đối ương bướng, vì vậy cần có một chủ nhân mạnh mẽ và biết cách huấn luyện chúng một cách bài bản.

Chiều cao, cân nặng Cao: 17 – 19 inches (43 – 48 cm). Chó cái cao 16 – 18 inches (41-46cm). Cân nặng: 57 – 67 pounds (25 – 30 kg)

Hoạt động Cần có các hoạt động tích cực và đều đặn. Nên đeo rọ mõm và dắt chúng bằng xích khi đi dạo phố để tránh xung đột với các loài chó khác

Sống lâu khoảng 10 – 12 năm. Chăm sóc cho bộ lông Có mức độ rụng lông vừa phải. Bộ lông ngắn mượt rất dễ chăm sóc. Trải lông bằng bàn chải chuyên dụng và chỉ tắm khi cần thiết.

Mô tả: Toy Poodle có chiều dài cơ thể xấp xỉ bằng với chiều cao từ bàn chân đến vai, vì thế nên cơ thể chúng có dạng hình vuông, đầu chúng tròn và nhỏ. Mõm chúng dài, thẳng, hốc mắt hình bầu dục nằm cách xa nhau. Đôi tai dài, thường hay rũ xuống. Chân chúng thẳng, bàn chân có hình bầu dục khá nhỏ và các ngón chân cong, móng chân thường được cắt đi. Chúng có bộ lông xoăn màu rất đa dạng: đen, xanh, bạc, xám, kem, mơ, đỏ, trắng, nâu…

Tính cách: Toy Poodle khá là thông minh, chúng đáp ứng rất tốt các yêu cầu của con người, chúng được cho là một trong những giống chó dễ huấn luyện nhất, chúng vui vẻ và năng động, thích được chơi với mọi người. Tuy nhiên, nếu chúng không được tập thể dục đều đặn thì sẽ có khả năng trở nên nhút nhát, có những biểu hiện tiêu cực như cắn người, phá đồ đạc, gầm gừ, sủa nhiều ( Hội chứng chó nhỏ). Loài chó này không thích hợp lắm với trẻ em, chúng chỉ nên được nuôi dạy bởi người lớn, cụ thể là những người biết tương đối các kỹ năng nuôi dạy chó. Đừng vì kích thước nhỏ nhắn, dáng vẻ dễ thương của chúng mà không đặt ra những biện pháp mạnh cho chúng, chúng sẽ nghĩ rằng chúng là chủ của bạn. Và hãy chắc chắn rằng bạn cho chúng tập thể dục, đi dạo hàng ngày, để chúng có được một nền tảng thể chất vững chắc, khi đó tính cách chúng sẽ được cải thiện nhiều hơn, chúng sẽ hòa đồng và yêu thương con người hơn. Điều kiện sống: Toy Poodle có thể sống ở thành thị hoặc nông thôn, tuy nhiên chúng cũng khá thụ động. Chúng thích nằm bên cạnh bạn, chúng có thể thoải mái mà không cần ra ngoài sân, tuy nhiên thỉnh thoảng bạn cũng nên đưa chúng ra ngoài đi dạo hoặc bày trò chơi với chúng.