Top 8 # Giống Chó Khôn Và Đẹp Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Misssportsvietnam.com

Top 10 Giống Chó Đẹp Và Khôn Nhất Thế Giới

Điểm danh những giống chó đẹp và khôn nhất thế giới

Đây là giống chó có nguồn gốc ở phía Bắc Trung Quốc, nó còn được gọi là Đường khuyển hay Tông sư khuyển (chó sư tử xù). Chow chow có dáng của loài gấu nhỏ vùng Tây Tạng và Mãn Châu Lý, lưỡi có nhiễm sắc thể xanh (huyền đề), đầu bành to và cặp chân ngắn.

Chow chow cao từ 18-22 inches (45-56 cm). Cân nặng 45-70 pounds(20-32 kg).

Với bộ lông dày, xù mang dáng dấp quý tộc. Chow chow có vẻ đẹp vừa dũng mãnh và còn duyên dáng đến bất ngờ. Đặc biệt giống chó này còn có chiếc lưỡi màu đen hoặc xanh khá độc đáo.

Dù to lớn nhưng chow chow di chuyển khá nhanh nhẹn, linh hoạt, săn bát rất giỏi, cực kỳ trung thành và luôn muốn được chủ vuốt ve, yêu thương.

9. Miniature Schnauzer

Giống chó Miniature Schnauzer được tạo nên với một vẻ đẹp hiếm có, Miniature Schnauzer không chỉ thông minh, xinh đẹp mà chúng còn khá nghịch ngợm.

Miniature Schnauzer là giống chó cảnh và chó sục có nguồn gốc từ Đức. Giống chó này được phân làm 2 loại là chó cỡ nhỏ và chó tiêu chuẩn với kích thước và chiều cao từ 35,5-48 cm, trọng lượng từ 5,9-6,8kg và thậm chí có thể đến 15kg.

Giống chó Miniature Schnauzer khỏe mạng, lông thô, cứng, lông mặt dài và lông mày rậm. Lông của chúng có màu đen tuyền hoặc muối tiêu, mặt có sự pha trộn giữa các màu xám, đen và trắng.

Tập tính của Schnauzer rất năng động, thích chơi đùa, thân thiện với mọi người trong gia đình và đặc biệt cảnh giác với người lạ. Bé rất giỏi giữ nhà, phát hiện và báo động kẻ lạ xâm nhập vào nhà nhanh và chính xác. Đây là giống chó thông minh, nhanh nhẹn và là người bạn trung thành của con người.

Giống cho chăn cừu Iceland là giống chó mỏ nhọn có nguồn gốc xuất xứ từ Iceland, người ta thường nuôi giống chó này để chăn cừu, gia súc và thậm chí là chăn ngựa ở vùng nông thôn tại Iceland.

Do sinh sống ở vùng đất lạnh giá Iceland nên giống chó này có một bộ lông xù giúp chúng thích nghi tốt với cái lạnh. Tính tình của bé này rất nghiêm khắc và tràn đầy năng lượng, khỏe mạnh và nhanh nhẹn. Chó chăn cừu Iceland rất lanh lợi và luôn biết đón tiếp khách nhiệt tình, không hề hung hăng. Giống chó này rất thân thiện và vui vẻ nhưng chúng lại tò mò và hiếu động, không hề sợ hãi, sống hòa thuận với trẻ em và các loài vật nuôi khác.

Giống chó chăn cừu của Iceland rất trung thành và luôn muốn ở xung quanh gia đình liên tục. Nó theo sau chủ nhân của nó ở khắp mọi nơi. Không giống như hầu hết những con chó làm việc, chúng bình tĩnh khi ở trong nhà và hạnh phúc nằm xuống dưới chân chủ của mình.

Chó núi Bernese là một giống chó lớn và nặng, chiều cao của con đực từ 61-71 cm, nặng 39-50kg, con cái có kích thước nhỏ hơn từ 58-69 cm và nặng 36-48kg. Chó núi Bernese đầu nhỏ, mõm hình chữ V, tai rũ, tuổi đời của chúng khoảng 8-10 năm.

Với ngoại hình khá đặc biệt, không chỉ là lớp lông dài mà còn còn là bộ lông pha 3 màu đẹp mắt. Riêng phần lông ngực của chúng luôn có màu trắng.

Đây là giống chó sống rất tình cảm, trung thành, ổn định và thông minh nhưng đôi khi hơi nhút nhát. Đa phần Bernese đều thân thiện với mọi người và những giống chó khác. Chúng rất dễ dạy, luôn muốn làm vui lòng chủ nhân, thích được khen ngợi và yêu thương. Giống chó này từ nhỏ đã được huấn luyện để chăn nuôi gia sức, chúng cực kỳ trung thành và mến chủ.

Được xem là một trong những giống chó cổ xưa nhất trên thế giới. Chúng có một bộ lông dày tuyệt đẹp thích nghi tốt với điều kiện khí hậu lạnh. Tuy vẻ ngoài to lớn nhưng chúng lại vô cùng hiền lành, khuôn mặt ngây thơ và cực kỳ thân thiện với trẻ nhỏ.

Alaska Malamute được phân ra làm 3 loại chó là Standard (tiêu chuẩn), Large Standard (tiêu chuẩn lớn) và Giant (khổng lồ). Alaskan Malamute có chiều cao trung bình là 63,5 cm và có thể cao đến 68,5 cm và có sự cân đối về chiều cao, cân nặng, cấu trúc xương và cơ bắp. Dòng Giant có thể cao đến 70 cm và nặng tới 75 kg. Xương chân lớn rất cơ bắp để phục vụ cho việc kéo xe.

Giống chó Alaskan Malamute rất thong minh, hiền hòa, luôn biết nghe lời chủ nhân và luôn nổi bật trong công việc. Bé rất thích trẻ nhỏ và sống hòa thuận với các vật nuôi khác. Giống chó này thích chạy nhảy ở những nơi rộng rãi, thoáng mát, chúng không có thói quen tha đồ hay nhặt bóng như những giống chó săn khác.

Alaskan Malamute rất hiền lành, gần gũi và tinh nghịch nhưng rất biết nghe lời. Chúng sống với chủ hiền hòa và tình cảm. Chỉ cần bạn chỉ dậy chúng đôi lần, Alaska có thể làm một cách thuần thục.

Akita Inu có nguồn gốc từ đảo Honshu vùng Akita và là một giống chó quý ở Nhật Bản. Akita Inu sở hữu thân hình to lớn, thể trạng mạnh khỏe và cơ bắp, trán rộng, cổ to, không có diềm cổ. Đây là một giống chó được coi là “quốc khuyển” của Nhật Bản, chúng sở hữu bộ lông dày ấm áp và mềm mại.

Ngoại hình bé Akita Inu cao lớn con đực cao từ 26 – 28 inches (66 – 71 cm), chó cái cao từ 24 – 26 inches (61-66 cm), cân nặng từ 75 – 120 pounds (34 – 54 kg), chó cái cân nặng từ 75 – 110 pounds (34 – 50 kg). Mắt nhỏ, hình tam giác có màu nâu sẫm. Mũi thông thường có màu đen (có thể có màu nâu trên các cá thể có màu lông trắng, nhưng màu đen được đánh giá cao hơn). Môi đen và lưỡi có màu hồng. Đuôi luôn vểnh cao và cuộn tròn ở trên lưng. Tai nhỏ, dày, hình tam giác, hơi tròn ở đỉnh tai. Tai dựng đứng và ngả về phía trước.

Akita Inu rất ngoan ngoãn, dễ dạy nhưng đôi khi lại tỏ ra cứng đầu, rất tận tụy và yêu quý chủ nhân. Đây là giống chó thông minh, can đảm và rất thận trọng, chúng khá bướng bỉnh, tinh nghịch.

Akita Inu có khuôn mặt luôn biểu cảm sự hạnh phúc, vui vẻ và chúng vô cùng thông minh. Tuy nhiên, giống chó này rất kị người lạ và chúng có tính bảo vệ lãnh thổ cực cao.

Beagle là giống chó săn nhỏ, có thân hình vuông vắn, vững chắc, khỏe mạnh. Là một dòng chó nhỏ đáng yêu với chiếc mõm ngắn, đôi mắt tròn xoe cùng cặp tai lớn, giống chó này đã nhận được sự yêu thích vì vẻ đẹp dễ thương, đáng yêu vô cùng.

Chiều cao con đực từ 36 – 41 cm (14 – 16inches), con cái từ 33 – 38 cm (13 – 15inches). Có hai nhóm chiều cao, từ 33 – 38 cm, và dưới 33 cm. Cân nặng của con đực từ 10 – 11 kg (22 – 25pounds), con cái từ 9 – 10 kg (20 – 23pounds). Tuổi thọ chúng khoảng 12 – 15 năm, số chó con từ 2 – 14 con.

Beagle có bộ lông ngắn, bóng mượt và dễ chăm sóc. Đây là giống chó săn đánh hơi phổ biến, luôn trong tâm thế sẵn sàng, tính tình vui vẻ, dịu dàng, lịch thiệp và hiếu động, thích gần gũi và quý mến mọi người. Chúng rất vui vẻ, ôn hòa, đáng yêu đối với trẻ nhỏ và những con chó khác. Không chỉ vậy, chúng còn rất biết nịnh và là một tay săn bắt cừ khôi.

Là một trong những giống chó được nuôi phổ biến nhất trên thế giới. Golden Retriever nổi tiếng với vẻ thông minh, hiền lành cùng dáng dấp quý tộc. Golden Retriever có thân hình cân đối, khỏe mạnh, bé sở hữu bộ lông vàng kem đến vàng nâu, cái đầu to, mõm hơi vát nhưng hàm rộng và rất khỏe.

Đây là giống chó thông minh, luôn cư xử đúng mực và rất yêu chủ, dễ dạy, luôn tỏ ra kiên nhẫn, dịu dàng đối với trẻ nhỏ. Bé rất trung thành, tin cậy, luôn tìm cách làm hài lòng chủ nhân. Bạn có thể cho bé giữ nhà rất tốt, thường cất tiếng sủa rất to khi có người lạ xuất hiện. Giống chó này luôn cần sự quan tâm của mọi người xung quanh, đặc biệt là chủ nhân.

Chúng có khả năng đánh hơi cực tốt, khá điềm tĩnh và xử lý vấn đề nhanh. Tuy nhiên với bản chất hiền lành nên chúng không phù hợp với vai trò giữ nhà hay đi săn bắt.

Husky luôn nằm trong Top những giống chó được yêu thích. Husky thuộc giống chó lớn, kích thước được xem là thuần chủng của một con Husky đực là cao khoảng 21 và 23 inch (53 và 58 cm) và nặng 45 và 60 pound (20 và 27 kg). Con cái sẽ bé hơn, nó cao khoảng 20 đến 22 inch (51 đến 56 cm) và nặng khoảng 35 đến 50 pound (16 đến 23 kg).

Không chỉ là bộ lông, vóc dáng, chúng còn có một khuôn mặt “cực ngầu” biểu cảm chẳng giống ai. Nếu bạn nhìn vào Husky, bạn sẽ phải phì cười về đôi mắt của chúng. Husky rất thông minh, nhưng đôi khi chúng lại thích biểu hiện khù khờ. Vì thế khi sở hữu 1 chú chó Husky, bạn sẽ thấy cuộc sống của mình thực sự bận rộn và nhiều màu sắc.

Đây là giống chó thân thiện với trẻ em, chúng có nhiều năng lượng nên đa phần có biểu hiện tăng động, phá phách khi sống trong nhà chật hẹp. Chúng có thể sẽ đuổi theo mèo, thú nhỏ một khoảng cách rất xa và đi lạc. Husky sẽ hú khi nó cảm thấy bị bỏ rơi hay cô đơn.

Bản năng của chúng là chạy vì thế lời khuyên dành cho những người nuôi Husky là nên cho chúng chạy ít nhất 2 lần/ngày để giảm bớt năng lượng và hạn chế sự phá phách. Chó Husky đứng thứ 45 trong bản xếp hạng những giống chó thông minh nhất.

1. Chó Phốc sóc (Pomeranian/Pom)

Và cuối cùng là sẽ giống chó nhỏ Pom đáng yêu với lớp lông xù dài, trắng muốt. Loài chó cảnh này được ưa chuộng vì chúng rất thông minh, biết nghe lời và trung thành.

Đây là một giống chó cảnh có ngoại hình nhỏ nhắn, dễ thương, xinh đẹp có nguồn gốc từ châu Âu. Chó Pom có kích thước bằng một món đồ chơi, chỉ cao từ 7-12 inch (18-30 cm), trọng lượng từ 1-3kg. Một số con có gương mặt giống loài cáo, một số con khác thì giống búp bê. Đôi mắt hình quả hạnh, chúng có cái đuôi xù trông mềm mại và uốn cong trên lưng. Đây là giống chó cực kỳ khó tính trong việc ăn uống, chúng rất kén ăn.

Mặc dù ngoại hình nhỏ bé nhưng tính cách Pom rất năng động và sôi nổi, chúng rất thông minh, ham học hỏi và trung thành, tò mò và hiếu động. Dù khá tinh nghịch nhưng bé lại rất dễ bảo và tình cảm. Chó Pom cũng khá độc lập, thuộc kiểu nhí nhảnh tự chơi tự vui nên đây là giống chó ít cần đồ chơi. Chúng khá thân thiện nhưng không bám dính chủ nhân. Là loại chó bầu bạn tốt với người cao tuổi.

So Sánh Chó Labrador Và Golden, Giống Nào Khôn Và Dễ Nuôi Hơn?

Gần đây, chúng mình nhận được rất nhiều câu hỏi từ khách hàng yêu cún của Tùng Lộc Pet. Một trong những câu hỏi nhận được nhiều nhất về mục Hỏi – Đáp đó là: So sánh chó Labrador và Golden cũng như giống nào khôn và dễ nuôi hơn? Liệu giữa hai dòng chó này có điểm giống và khác nhau nào mà lại dễ gây hiểu nhầm cũng như băn khoăn trong việc chọn mua chúng như thế. Vậy hãy cũng chúng mình đi tìm hiểu nào!

Tại sao lại hay nhầm lẫn giữa hai giống chó Labrador và Golden Retriever?

Là hai giống chó được ưa chuộng ở Hoa Kỳ và Anh Quốc. Hiện nay, chúng đang được nuôi phổ biến tại Việt Nam trong những năm gần đây. Với ngoại hình tương đối giống nhau nên không ít bạn đã nhấm lẫn giữa hai dòng chó này. Nhưng để ý kĩ ta sẽ thấy ở chúng có sự khác biệt rõ rệt.

Ngoại hình

Kích thước

Đều là giống chó có kích thước trung bình. Một con Labrador trưởng thành nặng từ 29-36 kg, chiều cao từ 55-56 cm. Golden thì nhẹ hơn một chút, cân nặng từ 29-34 kg, chiều cao trung bình từ 56-61 cm. Nhìn tổng thể thì Golden Retriever nhỉnh hơn Labrador.

Lông

Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai giống chó này có lẽ chính là bộ lông. Nếu như Golden là chú chó lông dài thì Labrador lại thuộc giống lông ngắn. Lông của Labrador ngắn, dày để không thấm nước giúp chúng không bị lạnh khi xuống nước vào mùa đông. Còn với Golden, chúng có bộ lông dài, mềm và hơi lượn sóng.

Về màu sắc lông, Golden chỉ có duy nhất màu lông vàng với sắc thái từ vàng nhạt tới vàng sẫm. Ngược lại, Labrador thì màu lông khá đa dạng gồm: vàng, đen, nâu sô cô la.

Dòng chó nào thông minh hơn?

Tính cách của Golden Retriever là điểm đặc biệt của giống chó này. Chúng được biết đến là giống chó “tốt bụng, thân thiện và tự tin”. Golden Retriever là một thú cưng tuyệt vời của gia đình, đặc biệt vì sự kiên nhẫn với trẻ em. Chúng không thích hợp l àm bạn với một người, và thường tỏ ra thân mật với cả người lạ và người quen. Bản tính thân thiện, hiền lành khiến chúng không làm chó canh gác, bảo vệ.

Golden Retriever cũng nổi tiếng thông minh. Chúng xếp hạng tư trong danh sách những giống chó thông minh, dễ huấn luyện nhất trong cuốn sách Trí thông minh của loài Chó

Nhắc đến Labrador thì không thể không nhắc tới bản tính thông minh. Chúng phù hợp với nhiều vai trò làm việc khác nhau, như phát hiện hỏa hoạn. Tính cách của chó Labrador thân thiện, tốt bụng, hòa đồng và dễ bảo. Khứu giác của chúng giúp ghi nhớ và lần theo nguồn gốc mùi hương. Chúng thường bám theo cho đến khi tìm được mùi đó. Quân đội, hải quân và lực lượng cảnh sát sử dụng chúng làm chó phát hiện, lần theo dấu vết của những kẻ buôn lậu, kẻ trộm, khủng bố và những tay buôn chợ đen.

Nhìn chung cả hai dòng chó đều thông minh và dễ huấn luyện như nhau. Xét ra thì một chín một mười nên còn phụ thuộc chủ yếu vào sở thích chọn lựa của mỗi người.

Nên nuôi Labrador hay Golden hơn?

Bạn có phải là người rảnh rỗi?

Nuôi bất cứ loài vật nào thì cũng cần thời gian để chăm sóc chúng cả. Nếu bạn có nhiều thời gian thì cả Golden và Labrador đều là gợi ý tuyệt vời. Nhưng nếu như bạn là người bận rộn, ngày 8 tiếng công sở về nhà với bao việc bộn bề thì nên chọn Labrador. Bởi, Golden sẽ mất nhiều công chăm sóc hơn do lông dài và hay rụng. Sau khi tắm rửa, vệ sinh cho chúng xong bạn sẽ phải sấy khô lông vì để lông ẩm ướt sẽ gây ra các bệnh viêm, nấm da. Trong khi đó với Labrador thì chỉ cần tắm là xong, lông chúng sẽ tự khắc khô rất nhanh chóng.

Nếu nhà bạn có trẻ nhỏ và có người dị ứng với lông

Golden và Labrador đều là ứng cử viên sáng giá khi bạn đang muốn tìm một người bạn đồng hành cùng các bé. Với bản tính tốt bụng, vô cùng thân thiện với trẻ em. Thêm vào đó, chúng mình đã nhận được không ít phản hồi tích cực từ chính những khách hàng từng mua hai dòng chó trên về độ vui vẻ, thân thiện, tốt bụng của chúng. Tin rằng chúng sẽ trở thành người người bạn tuyệt vời của gia đình đặc biệt là các bé. Lưu ý nho nhỏ là Golden thì rụng lông nhiều hơn nên cần cẩn thận hơn trong khi vui chơi cùng các bé.

Nếu nhà bạn có người bị dị ứng với lông, hen suyễn hay có phụ nữ mang thai thì không nên chọn Golden. Vốn đặc tính lông dài, dễ rụng gây ảnh hưởng cho những người mắc bệnh về đường hô hấp cũng như gây ra các triệu chứng khó thở.

Giá cả

Bên cạnh việc chọn mua cún cưng mình thích thì giá cả cũng là vấn đề được quan tâm. Bạn đang băn khoăn xem dòng chó nào đắt, rẻ hơn? Ở thời điểm hiện tại, giá chó Golden con được bán ra bởi Tùng Lộc Pet, các Breeder nổi tiếng cũng như các thương hiệu chó cảnh khác dao động từ 8,5-10 triệu/bé cún con 02 tháng tuổi với đầy đủ hồ sơ tiêm phòng và chính sách bảo hành lên đến 75 ngày kèm theo nhiều ưu đãi khác.

Labrador và Golden loài nào trông nhà tốt hơn?

Chúng mình xin trả lời là cả hai dòng đều trông nhà kém như nhau. Như đã nói ở trên, chúng có bản tính thân thiện, hiền lành và tin người. Chính vì thế với bản tính tương đối ham chơi nên khi nhìn thấy người lạ, chúng dễ dàng bị dụ bởi vài mẹo nhỏ. Chúng cũng được đánh giá là không thích hợp làm chó canh gác, bảo vệ. Tuy nhiên, nếu bạn không quá đặt nặng vấn đề trông giữ nhà thì chọn lựa hợp lí hơn cả là nên chọn Labrador. Đơn giản thay vì Golden có duy nhất tông lông vàng thì Labrador lại có cả màu đen, nâu. Một chú chó màu đen hoặc nâu trông sẽ dễ dọa người khác hơn đó.

Bạn muốn nuôi để huấn luyện

Không cần phải suy nghĩ thêm nữa, khi mà cả hai đích thực là giống chó cực kì dễ huấn luyện. Bản tính trời sinh thông minh sẵn có, việc dạy dỗ chúng sẽ không mất quá nhiều thời gian. Labrador và Golden sẽ tiếp thu nhanh những gì bạn dạy bảo và luôn có ý thức nghiêm túc chấp hành. Và bạn sẽ phải trầm trồ trước những người học trò ưu tú này cho mà xem.

Sức khỏe và tuổi thọ

Tuổi thọ trung bình của Golden Retriever là từ 11 đến 12 năm. Giống chó này dễ mắc một số chứng bệnh nhất định, nên chúng cần được đưa tới các cơ sở thú y để kiểm tra hàng năm. Golden Retriever được biết mắc các chứng rối loạn và những bệnh lý khác do gen. Loạn sản xương hông là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở giống chó này. Chúng cũng dễ bị béo phì do tính háu ăn.

Một chú Labrador có tuổi thọ trung bình từ 12 đến 14 năm, tuổi đời dài hơn Golden một chút. Giống chó Labrador hầu như rất khỏe mạnh, nhưng tất nhiên, chủ nuôi vẫn nên chú ý tới một số bệnh chúng dễ mắc phải như: loạn sản xương hông, loạn sản khuỷu; các bệnh về mắt: đục thủy tinh thể, bệnh teo võng mạc ở chó,…

Lời kết

Các bạn có nhu cầu sở hữu một bé chó Golden Retriever thuần chủng có giấy VKA xinh xắn, hoặc tư vấn dịch vụ phối giống chó Golden xin vui lòng liên hệ Tùng Lộc Pet theo thông tin bên dưới:

Trụ sở chính Miền Bắc: 151 Hồ Dắc Di – Phường Quang Trung – Quận Đống Đa – TP Hà Nội

Địa chỉ tổ hợp trại chó: Ngõ 143 Thúy Lĩnh – Phường Lĩnh Nam – Quận Hoàng Mai – Hà Nội

Điểm giao dịch miền Nam: Số 15 đường 19 – Phường Bình An – Quận 2 – TP HCM

Để phục vụ chu đáo và tư vấn những thông tin tốt nhất, quý khách vui lòng đặt lịch xem chó trước qua điện thoại theo số 0826880528 (Tại Hà Nội) và 0982880528 (tại TP HCM) hoặc nhắn tin qua Fanpage chính thức của Tùng Lộc Pet. Xin chân thành cảm ơn! Trần Khánh Tùng

Giống Chó Khôn Nhất Thế Giới

Border Collie (hay Collie Biên giới) là một giống chó chăn cừu phát triển ở biên giới Anglo-Scotland hạt Northumberland. Nó được nuôi để chăn gia súc, đặc biệt là cừu. Được coi là giống chó rất thông minh, cực kỳ năng động, ưa chạy nhảy và nhanh nhẹn. Chúng thường xuyên chiến thắng lớn trong các cuộc thi về chó chăn cừu và các môn thể thao dành cho chó. Chúng được coi là giống chó khôn nhất thế giới trong số các loài chó nhà. Collies Biên giới tiếp tục được sử dụng trong công việc chăn gia súc truyền thống của con người trên khắp thế giới và cũng được nuôi làm thú cưng.

Vẻ ngoài của giống chó khôn nhất thế giới

Nhìn chung, chó Border Collie là giống chó có kích thước trung bình và số lượng lông vừa phải, chúng thường dày hơn và dễ bị rụng. Chúng có một lớp lông kép thay đổi từ mịn đến thô và đôi khi cuộn tròn. Màu đen và trắng là kiểu màu phổ biến nhất của Border Collie.

Nhưng giống chó này cũng xuất hiện với bất kỳ màu sắc và kiểu mẫu nào. Một trong số này là đen 3 màu (đen / nâu vàng / trắng); gan và trắng; và đỏ ba màu (đỏ / nâu vàng / trắng) đã được nhìn thấy thường xuyên. Và có các màu khác như xanh lam, hoa cà, đỏ merle , xanh merle, vện; và đỏ Úc (còn được gọi là đỏ ee, bạch kim, đỏ lặn hoặc vàng ánh) ít được nhìn thấy hơn. Một số con chó cũng có lông một màu.

Màu mắt đa dạng từ nâu đến xanh lam, và đôi khi còn có màu mắt khác nhau; điều này thường thấy với merle. Tai cũng đa dạng – một số có tai dựng hoàn toàn, một số tai lại cụp xuống hoàn toàn và có những con khác bán dựng.

Tính cách và nhu cầu

Border Collies có nhu cầu tập thể dục hàng ngày và kích thích tinh thần nhiều hơn so với nhiều giống chó khác. Vì vậy, chó Border Collie được nhiều người coi là giống chó thông minh nhất thế giới. Border Collie đứng thứ 1 trong Cuốn sách The Intelligence of Dogs của Stanley Coren. Mặc dù vai trò chính của loài chó này là chăn nuôi gia súc. Nhưng giống chó này ngày càng trở nên phổ biến như một loài động vật thân thiết trong nhà.

Chúng chuyên gia đục khoét các lỗ trên tường và đồ nội thất, cũng như cào xước và hay đào hố do buồn chán. Chúng cũng thể hiện tập tính bầy đàn mạnh mẽ. Thể hiện qua việc chơi đùa cùng với trẻ nhỏ, mèo và những con chó khác. Người nuôi loại chó này nên đảm bảo rằng họ cho nó được vận động thường xuyên tương xứng với cơ thể giàu năng lượng và sức chịu đựng cao của giống chó này.

Một con Collie có thể “chạy nhiều dặm một ngày”. Nó sẽ khó chịu nếu bị cô lập, bị phớt lờ hoặc không được vận động. Border Collie cũng nhạy cảm với chuyển động và có thể đuổi theo các vật di chuyển. Tuy nhiên, hành vi này có thể sửa đổi nhờ huấn luyện.

Tuổi thọ của giống chó khôn nhất thế giới

Tuổi thọ tự nhiên của Border Collie là từ 12 đến 15 năm. Nguyên nhân tử vong hàng đầu của giống chó này là ung thư (23,6%), già yếu (17,9%) và tai biến mạch máu não (9,4%).

Câu chuyện về chú chó Shep

Chú chó từng thuộc về một người chăn cừu không rõ danh tính gần Fort Benton, Montana. Khi chủ của nó bị ốm vào tháng 8 năm 1936, rồi đến bệnh viện St. Clare ở Fort Benton để điều trị, và mang theo con chó của mình. Vài ngày sau, ông ta mất, và người thân của ông đã trở về miền Đông để gửi xác ông đi. Con chó chạy theo quan tài của ông ta đến ga tàu hỏa và nhìn theo nó được đưa lên một chuyến tàu hướng đến miền đông Hoa Kỳ. Chú chó luôn chờ đón mỗi chuyến tàu đến vào những ngày sau đó, mong đợi chủ nhân của mình sẽ quay trở lại.

Các nhân viên nhà ga phải mất một thời gian mới nhận ra rằng thi thể trong quan tài có lẽ là chủ nhân của con chó. Và nó đã dõi theo mỗi chuyến tàu đến để xem liệu chủ nhân của nó có xuống không. Con chó sau đó được đặt tên là Shep và các nhân viên nhà ga đã chăm sóc nó. Và nó sống trong và xung quanh nhà ga. Trở nên nổi tiếng với tất cả những người đi qua nhà ga đó.

Chú chó Shep vẫn chờ đợi

Shep vẫn canh gác tại ga hàng ngày trong gần sáu năm cho đến khi chú chó bị một đoàn tàu cán qua vào ngày 12 tháng 1 năm 1942. Người ta tin rằng hai bàn chân trước của chú chó nằm trên một trong những đường ray và nó chỉ đơn giản là không nghe thấy tiếng tàu cho đến khi quá muộn vì tuổi già. Kỹ sư của đoàn tàu đã không thể dừng đoàn tàu kịp thời.

Vài ngày sau, đám tang của Shep có sự tham dự của gần như tất cả mọi người ở Fort Benton. ” Eulogy on the Dog “, mặc dù được viết cho một con chó khác, đã được đọc tại lễ tang. Đội nam Hướng đạo sinh 47, những người chống đỡ và bảo vệ danh dự cho Shep, đã giúp khiêng quan tài đến ngôi mộ của con chó trên một con đường trơ ​​trọi, tại một sườn đồi nhìn ra thị trấn.

Vòng cổ và bát của Shep đã được trưng bày tại Bảo tàng Upper Missouri, Fort Benton, Montana.

10 Giống Chó Đẹp Nhất

Chó Chow Chow hay còn gọi là Đường khuyển hay chó của Đại Đường là một giống chó có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tên tiếng Trung của giống chó này là 鬆獅犬 (Hán Việt: Tông sư khuyển) có nghĩa là chó sư tử xù. Ngoài ra chúng còn có tên Wonk, Lang cẩu (chó sói), chó gấu,vv Chow Chow là tên phát âm tiếng Hán của người Anh và có nghĩa là giống chó hiếm từ vùng viễn đông. Hộp sọ rộng và thân hình tròn trịa, lông dày và đuôi xù lông là đặc trưng của giống chó này. Nó còn là một con chó nguy hiểm bởi chúng có thể tấn công nạn nhân với những vết cắn chết người. Nó không hề thân thiện, luôn có ý thức bảo vệ chủ nhân và tài sản của họ. Loài chó này nổi tiếng với trí thông minh và khí chất quý tộc. Chow Chow đã được nhiều vị thủ tướng, tổng thống nuôi nấng, trong đó có Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge. Chúng có giá khá đặt, giá của loài chó Chow Chow với bộ lông dày dao động từ 1.000 đến 8.000 USD. Chúng thường có bộ lông lớn và lưỡi của chúng thường có màu xanh hoặc màu đen.

Trong lịch sử, chúng đã được sử dụng trong các việc như săn bắn, kéo xe và canh gác. Chúng còn được dùng để săn sói, chồn, gà lôi. Chow Chow Từ bao đời nay giống chó Tây Tạng này luôn được coi là chó làm việc, chó canh gác và không được hưởng cuộc sống xa hoa như một vài giống chó khác. Chúng được coi là giống chó bình dân, có họ hàng với giống Laika và được dùng để trông nhà, kéo xe trượt tuyết và săn bắn. Bộ lông dày của Chow chow được sử dụng làm áo lông, ngoài ra thịt của chúng còn là một món đặc sản tại Trung Quốc.

Chow chow có ngoại hình rất giống với hình mẫu chó đá hoá thạch từ hàng triệu năm trước. Được biết đến khoảng 2.000 năm trước tại Trung quốc. Lần đầu tiên được đưa vào nước Anh năm 1800, tên gọi Chow chow xuất phát từ việc người Anh gọi tất cả các súc vật lạ được đưa vào từ miền viễn Đông. Năm 1880 lần đầu tiên một số cá thể dòng lông ngắn của giống Chow Chow, còn có tên chó Katon, được đưa về Anh quốc. Thông qua các cuộc lai tạo được lựa chọn nghiêm ngặt với các giống chó lông dài bản địa, chúng đã trở thành giống chó thượng lưu. Chow Chow là chó cưng của nữ hoàng Victoria và các sau này là nữ hoàng Elisabeth.

Chow Chow thuộc giống chó có nguồn gốc cổ xưa. Đặc biệt là chúng có dáng của loài gấu nhỏ vùng Tây Tạng và Mãn Châu Lý do có cái lưỡi có nhiễm sắc thể xanh (huyền đề), cái đầu bành to, các cặp chân ngắn và thân hình có kích thước hình vuông (kích thước chiều dài và chiều cao tới vai bằng nhau, giống như các dòng Spitz Đức. Giống chó đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc từ người chủ của chúng nếu họ không muốn chúng trở nên hung hăng và mất kiểm soát. Chúng cảnh giác cao độ với người lạ và quyết liệt bảo vệ chủ nhân khi cần thiết và có thể trở nên nguy hiểm.

Chow chow cao từ 18-22 inches (45-56 cm). Cân nặng 45-70 pounds(20-32 kg). Hai đặc điểm đầu tiên để nhận dạng giống chó này là lưỡi có màu xanh đen và bốn chân thẳng, to trông hơi thô làm cho chúng có dáng đi cứng nhắc, trông không được tự nhiên. Tai của chúng tròn và nhỏ. Đầu chó Chow chow to, rộng, trán phẳng, mõm khá to và hợp với mũi thành một khối lồi ra phía trước.Ngực chúng rộng khoẻ mạnh, phần thân sau ngắn gọn gàng. Đuôi xù lông và luôn buông thõng. Loài chó này có thể sống được 15 năm. Đây là một giống chó rất khỏe mạnh. Có khả năng mắc chứng loạn sản. Ngoài ra còn hay mắc bệnh quặm mắt. Chúng phải ăn hai bữa một ngày.

Bộ lông dày và rậm có hai loại khác nhau mượt và thô cứng. Màu phổ biến nhất của giống chó Chow chow này là màu nâu đỏ, đen, lam đen, màu kem, cũng có thể bắt gặp màu xám. Màu trắng được coi là khá hiếm. Đặc biệt chó Chow chow thuần chủng không có bộ lông loang lổ pha lẫn các màu với nhau. Đặc điểm khác của giống chó này là có bờm lớn rất ấn tượng và làm cho chúng có nét giống như loài sư tử. Cần chải lông thường xuyên bằng bàn chải chuyên dụng vì Chow chow có mức độ rụng lông khá nhiều. Loài Chow chow lông ngắn thường hiếu động và dễ dạy bảo hơn loài lông dài.

Chow chow thông thường rất biết điều và ngoan ngoãn, tuy vậy có thể trở nên bướng bỉnh khó bảo. Đây là loài chó chỉ biết công nhận duy nhất chủ nhân của mình, chúng rất trung thành với gia chủ. Nếu bị người lạ tấn công, Chow chow sẽ phản ứng tức thì với tất cả sự hung dữ của chúng. Giống chó rất cá tính này sẽ thích hợp nhất đối với những người chủ mạnh mẽ. Chow chow sẽ phát triển tốt nhất. Không nên trông đợi vào sự tuân lệnh một cách tuyệt đối của chúng, vì loài chó này có tính bướng bỉnh bẩm sinh và thích hành động theo cách của chúng. Dù là loài chó thông minh, có thể dễ dàng tiếp thu các bài học, tuy nhiên, cần phải kiên nhẫn khi dạy bảo chúng.

Nói chung Chow chow hay lấn át và bắt nạt các loài chó khác, tuy vậy chúng lại luôn tỏ ra rất dịu dàng và ngoan ngoãn khi chơi với trẻ nhỏ. Nên cho Chow chow hoà nhập từ lúc còn nhỏ với các vật nuôi khác.Việc dạy dỗ cần được tiến hành ngay từ lúc chúng còn nhỏ. Có thể sống trong điều kiện căn hộ. Tuy vậy, chúng tỏ ra khá thụ động trong không gian hẹp và thoải mái nhất khi ở không gian rộng như là sân vườn. Nhạy cảm với thời tiết nóng quá, tuy vậy có thể sống ở ngoài sân. Chúng tương đối lười biếng nên cho chúng tập các bài thể dục để trở nên thon thả và nhanh nhẹn hơn. (Nguồn: Wiki)

2# MINIATURE SCHNAUZER

Miniature Schnauzer là giống chó cảnh và chó sục có nguồn gốc từ Đức, tên Schnauzer có nghĩa là cái rọ mõm, bắt nguồn từ việc lông mặt của chó rất dài, và bọc quanh mõm chó giống như cái rọ. Đây cũng là nét đặc trưng của chó Schnauzer. Giống Standard Schnauzer xuất hiện từ thế kỷ thứ 17, và chúng được dùng để chăn gia súc lớn. Chúng có thể dùng để săn chuột. Chúng hữu dụng là chó kiểng bầu bạn với người ưa làm việc đi săn. Bản tính sống động vui vẻ cảnh giác với người lạ. Tại các trang trại, những con chó thuộc giống này thường có nhiệm vụ bảo vệ, canh gác hay hỗ trợ chủ nuôi khi vận chuyển đàn gia súc, có những con chó có thể làm những công việc có độ khó cao giúp chủ.

Chúng được phân loại là chó cỡ nhỏ và tiêu chuẩn, với kích thước là chiều cao từ 35,5-48 cm, trọng lượng 5,9- 6,8 và có thể đến 15 kg. Đây là một giống chó khoẻ mạnh, lông thô, cứng, lông mặt dài và lông mày rậm. Lông của chúng đen tuyền hoặc muối tiêu, mặt pha trộn giữa các màu xám, đen và trắng. Dù nhỏ con, chúng đủ dẻo dai để chơi những trò tốn sức và đủ vững chãi để làm bạn tốt với người già.

Có ba loại chó Schnauzer khác nhau đã được phân định, và chúng đều có chung một dòng giống tổ tiên. Loại Schnauzer khổng lồ, từ chân đến vai đo được 63,5 cm, hai loại sau thì nhỏ hơn nhiều, chiều cao trung bình của chúng là 33,5 cm và 48 cm. Lần đầu tiên, chúng xuất hiện ở những hội chợ triển lãm chó vào cuối năm 1800, dưới cái tên Wirehavied Pinscher, sau này chúng mới được xác nhận rõ ràng là chó Schnauzer tiêu chuẩn. Giống tiểu Schnauzer là kết quả lai tạo giữa những con Standard Schnauzer nhỏ bé nhất, được chọn lựa từ các bầy chó với giống Pinscher.

Giống chó này phải được cắt tỉa lông thường xuyên, lông mặt, lông mày phải được giữ sạch sẽ để khỏi hôi hám. Lông và cẳng phải được chải mỗi ngày. Bộng lông của chúng cần chải gỡ kỹ càng mỗi ngày. Phải rửa ráy bộ lông mõm cho chúng, vì nó dễ bị dơ khi thức ăn bám vào. Muốn tránh tình trạng này, nên cho chó ăn thức ăn khô, hoặc hơi ướt một tí, đừng cho ăn lỏng. Đều đặn vài tháng một lần, nên xén tỉa bộ lông cho chó, để giữ nó ở trong trạng thái tốt. Nên đem chó đến các thẩm mỹ viện dành cho chó.

Các giống chó Schnauzer đều tỏ ra năng động, thích chơi đùa. chúng rất thân thiện với mọi người trong gia đình, đặc biệt rất cảnh giác với người lạ. nó giữ nhà rất giỏi, phát hiện và báo động kẻ lạ xâm nhập vào nhà nhanh và chính xác. Giống chó này bé và khi phối giống chó Pug sẽ cho ra những chú chó rất thích sống ngoài trời. Tuy nhiên nó cũng bằng lòng với cuộc sống trong nhà ở thành thị. Là giống chó thông minh và lanh lẹ, là bạn trung thành và là thú cưng cho gia đình. (Nguồn: Wiki)

3# ICELANDIC SHEEPDOG

Giống chó Icelandic Sheepdog – Chó chăn cừu Iceland hay còn có những tên gọi khác là Iceland Sheepdog, Islandsk Farehond và Icelandic Dog, loài chó này thuộc dòng chó săn và bảo vệ các đàn gia súc, chúng có kích thước trung bình và bản tính nhẹ nhàng nhưng cũng rất lanh lợi và luôn tràn đầy năng lượng, loài này là một người bạn đồng hành phù hợp với những ai yêu thích sự năng động và nhiệt huyết. Tìm hiểu thông tin chi tiết về giống chó chăn cừu Iceland

Giống chó Icelandic Sheepdog – Chó chăn cừu Iceland là một trong những giống chó lâu đời nhất có nguồn gốc từ vùng Iceland, vào những năm 874 – 930 trước Công Nguyên, những kẻ cướp biển Viking đã mang chúng đến với vùng này, loài chó này còn được gọi là Iceland Spitz hoặc Iceland Dog. Dòng chó này có chung nguồn gốc tổ tiên với giống chó cổ Cardigan Welsh Corgi và chó chăn cừu Shetland, trong nhiều thế kỷ loài chó Icelandic Sheepdog được sử dụng để bảo vệ đàn gia cầm và săn bắt các loài chim, lửng.

Giống chó này cho đến ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi để bảo vệ cách vùng trang trại và trở thành loài vật nuôi trong gia đình. Loài chó này chính thức được Hiệp hội chó giống Mỹ công nhận vào năm 2010.

Giống chó Icelandic Sheepdog có một thân hình tương đối nhỏ nhưng đầy đặn với kích thước chiều cao từ 31 – 41 cm và cân nặng từ 9 – 14 kg. Giống chó này có bộ ngực rộng, những cặp chân ngắn, cặp chân sau có cơ bắp chắc khỏe, phần cơ thể khá dài hơn so với chiều cao của chân. Loài chó này có đầu thủ rộng, mõm nhỏ gọn, đôi tai hình tam giác khá nhỏ và dựng đứng cao trên đầu, chúng có chiếc đuôi dài phủ rậm lông dài và thường cuộn tròn trên lưng.

Loài chó chăn cừu Iceland có một bộ lông ngắn, dày rậm, mềm mại và không thấm nước. Phần lông dài hơn ở các vùng cổ, ngực và sau bắp đùi, bộ lông của giống chó này thường có màu kem hoặc màu trắng kết hợp với một màu khác như nâu vàng, nâu đỏ, xám hoặc đen.

Loài chó chăn cừu Iceland là một giống chó có tính tình lanh lợi và tràn đầy năng lượng, chúng rất nhanh nhẹn và hiếu động, loài chó này cũng rất tình cảm, chúng thân thiện với tất cả mọi người, trẻ em và cả những loài vật khác.

Bản tính thân thiện và hiếu động nhưng chúng rất trung thành và cảnh giác, chúng sẽ luôn quấn quýt bên chủ nhân và nghe theo mọi mệnh lệnh của chủ. Loài chó này có thể đồng hành tốt trong các cuộc săn bắn, vui chơi và là một tay canh gác rất giỏi. (Nguồn: Hội nuôi trồng)

4# BERNESE MOUNTAIN DOG

Chó núi Bernese hay ở Thụy Sĩ và Đức còn gọi là Sennenhund Berner là một giống chó lớn, một trong bốn giống chó Sennenhund có nguồn gốc từ từ dãy Alps Thụy Sĩ. Các Sennenhund tên bắt nguồn từ Đức “Senne” (núi cao đồng cỏ) và “Hund” (chó săn). Berner hoặc Bernese bằng tiếng Anh được nuôi như loại chó trang trại (bảo vệ và kéo xe).

Những con chó núi Bernese là hậu duệ của chó sói được thuần hóa để nuôi trong các trang trại ngày xưa với mục đích bảo vệ và kéo xe. Các loại ban đầu được gọi là Godly, được lại tạo ở một thị trấn nhỏ tên là Dürrbach, nơi những loại chó lớn thường được nuôi thường xuyên. Ở Harrisburg, người ta sử dụng những con chó như là công cụ chiến tranh.

Trong đầu thập niên 1900, trong cuộc trưng bày về những con chó lớn đã thấy giống Berne xuất hiện, và vào năm 1907 một vài nhà lai tạo từ khu vực Burgdorf thành lập câu lạc bộ giống đầu tiên, đã xác định tiêu chuẩn cho Bernese thành một giống chó riêng biệt. Đến năm 1910, đã có 107 thành viên đã đăng ký của giống này.

Cũng giống như các Sennenhunds khác, Bernese Mountain Dog là một con chó nặng, lớn. Chúng thuộc nhóm chó có kích thước lớn, chiều cao con đực đạt từ 61-71 cm, con cái có kích thước từ 58-69 cm, con đực cân nặng từ 39-50 kg, con cái cân nặng từ 36-48 kg. Đầu nhỏ, mõm hình chữ V, tai rũ. Tuổi đời chúng khoảng 8 – 10 năm. Chúng chậm trưởng thành, và trưởng thành hoàn toàn phải ở vào lúc 2,5 tuổi. Bernese là loài chó thích vận động, chúng rất hiếu động và thường chạy rất nhanh.

Bộ lông chúng có màu đặc biệt, toàn thân màu đen, ngực và mũi trắng, phía trước bốn chân, hai bên miệng và hai bên mắt màu nâu vàng, một vẻ đẹp khi nhìn từ phía trước. Lông của Bernese là hơi thô, kết cấu đơn giản lớp lông lót khá dày đặc, khả năng chịu thời tiết. Nên chải mỗi tuần một hoặc hai lần là đủ, nên dùng lượt kéo khi chảy.

Các tính khí Bernese là một điểm mạnh mẽ của giống chó này, chúng rất tình cảm, trung thành, ổn định, thông minh, nhưng đôi khi nhút nhát. Đa số các Bernese thân thiện với mọi người, và con chó khác. Chúng cũng có được thân thiện với các vật nuôi khác như mèo, ngựa, vv. Bernese là loại chó dễ đào tạo, luôn muốn làm vui lòng chủ sở hữu, rất thích được khen ngợi và thương yêu. Bernese là chú chó quen sống ngoài trời hơn là trong nhà. Tuy nhiên, nó rất muốn sống trong nhà đẻ ở gần với chủ.

Khác với các giống chó săn, BM khi ở trong nhà rất yên lặng và không nghịch ngợm. BM không đòi hỏi cần nhiều tập luyện và hoạt động nên sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho chủ. Vời tính khí bình tĩnh Bernese rất thích hợp cho việc xe kéo nhỏ hoặc toa xe, một nhiệm vụ mà ban đầu chúng được thực hiện ở Thụy Sĩ. Nếu được đào tạo thích hợp chúng có thể kéo xe cho trẻ em hoặc giỏ hàng nội trợ.

5# ALASKAN MALAMUTE

Chó Alaska hay Alaska Malamute hay Mahlemuts là một giống chó kéo xe ở Alaska. Giống chó sói được đặt tên theo bộ tộc Mahlemut là Malamute. Người Eskimo du mục ở Alaska đã khám phá ra chúng có khả năng di chuyển và kéo xe trên tuyết một khoảng cách rất lớn và liên tục. Họ đã cho lai tạo với những giống khác như chó Newfoundland hoặc St Bernard để có được giống chó ngày càng to hơn, khỏe hơn, bền bỉ hơn, và chịu được thời tiết khắc nghiệt của vùng Bắc Cực. Người Nga đã dùng những chú chó này đê chở lông thú và thịt thú rừng tới những khu vực lân cận để bán và đổi các mặt hàng khác. Giống chó này đòi hỏi được tập luyện hàng ngày nếu không chúng sẽ buồn chán và phá hoại.

Chúng được những người dân sống tại sống tại vịnh Kotzebue, Vùng đất Alaska nuôi dưỡng và huấn luyện chuyên dùng để làm việc trong thời tiết khắc nghiệt và hết sức lạnh giá của vùng đất Bắc Cực. Khi những người Nga khám phá ra vùng đất bắc cực lạnh giá này thì họ cũng có nhắc đến giống Chó với những đặc điểm mà giống với những gì mà giống Chó alaska đang có. Sau này vùng đất Alaska trở thành 1 bang của Mỹ thì ngẫu nhiên, giống Chó này trở thành một giống Chó của Mỹ. Và chính vì thế, đến năn 1935 American Kennel Club đã công nhận điều ấy.

Những người dân du mục khá tự hào về giống chó của họ vì chúng luôn hoàn thành tốt quãng đường phải vượt qua. Malamute đã được phát triển ở Alaska từ lâu đời, trước khi Alaska trở thành một bang của Mỹ và ngẫu nhiên thì nó trở thành giống chó Mỹ. Việc nghiên cứu và phát triển giống chó này không rầm rộ hay nổi bật như các giống chó khác. Khi những người Nga khám phá ra vùng băng tuyết này thì họ cũng nói đến giống chó Malamute này.

Malamute chủ yếu được nuôi ở gần vùng Bắc cực băng giá và những khu vực thường có tuyết quanh năm. Tuy nhiên ở một số nơi khác thì chúng được nuôi như vật cảnh trong gia đình. Việc đi lại trên tuyết với những khoảng cách khá xa thì khó có thể thay thế được chó Malamute. Manamute vẫn được lai tạo để phục vụ cho mục đích kéo xe. Với đàn chó kéo khá đông một sức khỏe vượt nhiều con đường tuyết phủ trắng và sự nhiệt tình hết mình chuyến đi sự chịu đựng thời tiết khắc nghiệt. Chúng thay cho bất kì loại hình phương tiện di chuyển nào trên vùng phương Bắc này.

Hàng năm tại Canada, Mỹ và một số nước khác có tổ chức những cuộc đua mang tính chất thể thao được diễn ra nhằm đáp phát triển giống chó chuyên kéo xe tuyết này. Đôi khi tại một số thành phố hay nông trại thì người nuôi cũng có mục đích tương tự nhưng những con Malamute này lại kéo xe có bánh tròn để thồ nông sản và 1 số vật dụng khác thay cho ngựa. Với những đàn chó kéo trên 15 con với quãng đường rất dài thì yêu cầu người nuôi và điều khiển có sự tuyển chọn kĩ càng cho những chuyến đi.

Alaskan Malamute có chiều cao trung bình là 63,5 cm và có thể cao đến 68,5 cm và có sự cân đối về chiều cao, cân nặng, cấu trúc xương và cơ bắp. Xương chân lớn rất cơ bắp để phục vụ cho việc kéo xe. Với hình dáng ngoài không được quý phái, duyên dáng hay có dáng thể thao như một số giống khác mà nó có nét tương đồng với loài sói Bắc Mỹ. Cặp mắt màu nâu, nâu đen hình quả hạnh, tai nhỏ đầy lông tơ. Alaskan Malamute đẹp nhất là nhờ bộ lông dày mượt, đặc biệt cái đuôi hình bông lau xõa đều cong ngược trên lưng. Bộ lông dày thô, mềm, bóng và có sắc biến thiên dần từ màu trắng toát ở phần bụng tới màu đen lên đến trên sống lưng và có khuôn mặt rất đẹp với những mảng trắng. Đuôi luôn cuộn phía trên lưng. Giống chó Alaskan Malamute có hai lớp lông ngăn không cho cái lạnh buốt giá ngấm vào cơ thể. Lớp lông dài phía ngoài không thấm nước, lớp lông trong ngắn hơn nhưng rất dày lớp lông trong ngắn và cấu trúc như những sợi lông cừu. Do vậy mà việc chăm sóc lông phải yêu cầu rất nhiều thời gian và chu đáo. Nếu nuôi tại các gia đình thì phải chải lông thường xuyên để tránh lông rụng bám vào thảm hay chăn đệm.

Chó alaska là một trong những giống Chó lao động mà chủ yếu là dùng để kéo xe, chính vì thế chúng sở hữu một bộ khung cao to, chắc chắn rất khỏe mạnh và đặcbiệt là xương chân và các khớp xương chân tương đối phát triển. Loại Chó này rất đa dạng về màu lông, nhưng điển hình là màu xám trắng, xám lông chồn kết hợp với trắng, đen trắng hoặc có thể trắng toàn thân. Dù Chó alaska có màu lông như thế nào đi chăng nữa thì 2 yếu tố màu lông không thể thay đổi đó là mõm và 4 chân phải là màu trắng. Bộ lông của chúng được phân ra thành 2 lớp. Lớp lông dài bên ngoài đặc biệt không thấm nước; lớp lông trong ngắn hơn nhưng rất dày, có cấu trúc như lông cừu. Chó đẹp nhất là nhờ vào bộ lông của chúng, một bộ lông dày, mượt, khỏe, và có cái đuôi cong dài những sợi lông dài, xõa đều trên lưng. Chúng sở hữu đôi mắt có vị trí xiên chéo trên hộp sọ, hình hạt hạnh nhân, màu hạt dẻ và kích cỡ trung bình. Trong khi di chuyển, chúng luôn đứng thẳng, ngẩng cao đầu, 2 mắt mở to và luôn luôn quan sát do Chó alaska rất tò mò, rất nhanh nhẹn hoạt bát, luôn luôn quan sát tìm hiểu mọi sự vật hiện tượng xung quanh.

Chúng thông minh, hiền hòa, luôn biết nghe lời dù là chó cái hay đực và luôn nổi bật trong công việc. Thích trẻ nhỏ và luôn hòa thuận với nhũng vật nuôi khác. Tuy nhiên thường thì Malamute không có thói quen nhặt bóng hay tha đồ vật như một số giống chó săn khác vì mục đích nuôi từ cổ xưa của người Eskimo không vì mục đích săn bắn mà chỉ để kéo xe nên bản tính săn mồi trong nó rất ít. Đặc biệt là không bao giờ tấn công mèo, điều rất khác với đa số các con chó khác. Alaskan Malamute là giống chó thông minh nên có khả năng học tập rất nhanh và rất biết vâng lời. Bản chất rất tò mò và vô cùng hiếu động nên Malamute rất thích được lao động. Alaskan Malamute có thể tự đi rất xa mà vẫn tìm được đường về. Do tập tục sống bầy đàn nên khi nuôi trong gia đình thì chúng rất nghe lời chủ bởi coi chủ như con đầu đàn, luôn phục tùng và có khuynh hướng luôn sẵn sàng bảo vệ đàn của mình khi có kẻ muốn tấn công hay xâm phạm. Malamute có khả năng học và dễ tuân lệnh. Chúng rất thích thú khi được kéo vật gì đó trên những đoạn đường dài cùng bầy đàn của nó. Việc di chuyển trên tuyết trong không gian rộng lớn thì rất tốt.

Chúng thích chạy nhảy ở những nơi rộng rãi thoáng mát và một điều khá hay đó là giống Chó alaska này không có thói quen tha đồ hay nhặt bóng như những giống Chó săn khác vì vốn dĩ ngay từ thời xa xưa, những người dân vùng Bắc Cực nuôi dưỡng và huấn luyện chúng chỉ để lao động mà điển hình là dùng để kéo xe chứ không dùng chúng vào mục đích săn môi như các loại khác. Bản năng kéo xe và di chuyển trên những quãng đường dài dường như nó đã ngấm vào máu của dòng Chó này. Chó alaska là một trong những giống Chó thông minh nhất thế giới. Chúng có bề ngoài hình giáng giống như một con Chó sói hung giữ và khó gần tuy nhiên trái với những gì so với vẻ bề ngoài của nó thì Chó alaska rất hiền lành, gần gũi rất tinh nghịch nhưng lại biết nghe lời chủ. Chúng sống với chủ nhân của chúng rất hiền hòa, và rất tình cảm. Chó Alaska này đó là chúng đặc biệt rất quý trẻ em

6# AKITA INU

Akita Inu hay chó Akita hay Akita Nhật là một giống chó quý có nguồn gốc từ Nhật Bản. Chúng được coi là giống chó chính thức và là Quốc khuyển của Nhật Bản vì những đặc tính ưu điểm của mình. Akita có hai loại chính, chủng Nhật Bản và Mỹ, Akita Nhật có thể màu trắng, nâu đốm, nâu vàng hoặc đỏ trong khi Akita Mỹ thì rất phong phú. Akita Nhật thường sống ở vùng đồi núi ở Nhật Bản. Chó Akita to, khỏe và rất nổi bật và khá ương ngạnh. Chúng mạnh mẽ, độc lập và tính thống trị, chúng rất vui vẻ hòa đồng với các thành viên trong gia đình nhưng tránh xa người lạ do sự phân chia lãnh thổ do dó có thể trở nên nguy hiểm

Chúng thường tỏ ra hung hăng với những con chó khác nếu không được bảo ban, dạy dỗ chu đáo. Chúng còn được biết đến là được biết đến là giống chó ngoan ngoãn, dễ bảo, nhưng đôi khi cũng tỏ ra cứng đầu. Rất tận tuỵ và yêu quý gia chủ, chúng thông minh, can đảm và rất thận trọng, không thân thiện với người lạ nhưng bản tính của Akita là trung thành và rất có tình nghĩa với chủ nhân. Giá thành của chúng đắt với 3.500 USD cho mỗi con. Trong văn hóa đại chúng, giống chó này được biết đến thông qua chú chó Hachikō, chú chó lông xù Wasao và những chú chó trong bộ truyện tranh Chú chó có nghĩa (tiếng Nhật: Ginga: Nagareboshi Gin)

Akita Inu có nguồn gốc từ đảo Honshu vùng Akita, Nhật Bản. Những di chỉ đầu tiên về sự tồn tại của giống chó Akita Inu được tìm thấy từ nhiều thế kỉ trước. Đây là giống chó cổ xưa nhất của Nhật Bản và gần như là của thế giới. Chúng ta bắt gặp hình ảnh của chúng trên các vách đá có niên đại hơn 2000 năm TCN. Giữa các thế kỉ XVI và XIX, dưới triều đại Edo, chó Akita là hình tượng quan trọng trong xã hội. Ngày nay, Chú chó Akita nổi tiếng đã được tạc tượng đồng đặt ở nhà ga Shibuya và tại Odatem, trung tâm lai tạo Akita, đã có cả một bảo tàng về giống chó này.

Giống chó được sử dụng vào nhiều mục đích, đầu tiên như là bảo vệ cho Nhật hoàng, sau đó như chó chiến đấu, chó săn gấu và lợn lòi, dùng trong quân đội, cảnh sát. Akita có bản năng của loại chó săn bắt và có thể phát huy ngay cả khi tuyết phủ dày. Vào đầu thế kỷ thứ 19 Akita được lai giống với chó Tosa và các dòng chó to con của châu Âu nhằm tạo ra giống chó hung dữ cho các cuộc khuyển đấu. Năm 1910, sau khi cấm chọi chó được 2 năm, Nhật Bản quyết định lại tạo ngược dòng để có trở lại giống Ikata nguyên bản. Đến năm 1970 hầu như quá trình tái lai tạo đã hoàn tất.

Con Akita đầu tiên được mang tới Mỹ bởi Helen Keller. Người Mỹ cũng mang Akita trở về sau Đại chiến thế giới lần thứ 2. Về sau, có sự lai tạo của giống chó này với molosos giống chó có đầu giống con dơi) và Akita trở thành một phần trong các cuộc đấu chó do sự dũng cảm huyền thoại của chúng. Một số người yêu thích giống chó này đã tìm kiếm và gây dựng lại giống và đã thu được các tiêu chuẩn. Từ năm 1931, chó Akita đã được tuyên bố là Di sản quốc gia tại Nhật Bản. Nhật cấm xuất khẩu chó Akita và Akita Inu được tuyên bố là báu vật quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt. Mãi đến năm 1950 quy chế cấm xuất khẩu giống chó này mới được sửa đổi.

Từ sau khi sự kiện của chú chó Hachiko, có công bố một bản điều tra số lượng còn lại của giống chó Akita tại Nhật Bản, theo đó chỉ còn lại 30 con thuộc giống Akita thuần chủng bao gồm cả Hachikō. Sau đó, anh vẫn tiếp tục đến thăm chú chó và tiếp tục công bố những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachikō. Đáng chú ý là vào năm 1932, một trong số những bài viết này đã được đăng tải trên tờ báo Asahi Shimbun – một tờ nhật báo nổi tiếng của Tokyo với số lượng độc giả rất lớn – đã khiến cho mọi người biết tới Hachikō. Lòng trung thành của chú đã gây ấn tượng cho tất cả mọi người, các giáo viên đã lấy Hachikō như một tấm gương sáng về lòng trung thành cho trẻ noi theo, các nghệ sĩ nổi tiếng đã bắt đầu tạc tượng, trên cả nước dấy lên phong trào phát triển giống chó Akita, và danh hiệu Chūken (忠犬 – chú chó trung thành) cũng ra đời.

Gần đây nhất, giống chó quý này cũng được Nhật Bản tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm thúc đẩy quan hệ giữa 2 nước. Con chó 3 tháng tuổi, thuộc giống chó quý Akita Inu, tên gọi Yume, là một món quà từ tỉnh Akita, Nhật Bản gửi tặng nhà lãnh đạo Nga. Tỉnh Akita đã quyết định tặng con chó cho ông Putin vì nhà lãnh đạo Nga rất yêu mến loài động vật này, món quà nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với sự trợ giúp Nga sau thảm hoạ động đất và sóng thần và để chúc mừng ông Putin trở lại ghế tổng thống.

Chó Akita Inu có thân hình to lớn, thể trạng mạnh khỏe và cơ bắp. Phong thái thanh lịch của nó truyền tải tính cách và sự uy nghi của tầng lớp quý tộc. Hộp sọ tỷ lệ thuận với kích thước cơ thể. Trán rộng và cổ to và cơ bắp, không có diềm cổ. Đây là giống chó lớn nhất của Nhật Bản trong nhóm Spitz là tên của 1 nhóm gồm có khoảng 56 giống chó, chó trong nhóm này thường có lông dài, trắng hoặc một phần trắng, tai và mõm nhọn, phần đuôi thì hầu hết là cuộn trên lưng. Trong nhóm này thì có khoảng 25 giống trông rất giống nhau, mang hình dáng giống như Siberian Husky hoặc Alaskan Malamute và lớn nhất là giống Akita này.

Chó có ngoại hình cao lớn, con đực cao từ 26 – 28 inches (66 – 71 cm), chó cái cao từ 24 – 26 inches (61-66 cm), cân nặng từ 75 – 120 pounds (34 – 54 kg), chó cái cân nặng từ 75 – 110 pounds (34 – 50 kg). Chúng có thân hình chắc nịch, cân đối, gân guốc, mạnh mẽ và trông rất ấn tượng. Đầu to, trán phẳng và bộ hàm ngắn nhưng khoẻ. Răng sắc khoẻ, theo hình răng cưa, Chúng có mõm mềm nên có thể dễ dàng săn những loài chim nước. Mặt có hình tam giác theo kiểu chó sói. Giữa trán có một rãnh chia đôi mặt thành hai nửa bằng nhau.

Mắt nhỏ, hình tam giác có màu nâu sẫm. Mũi thông thường có màu đen (có thể có màu nâu trên các cá thể có màu lông trắng, nhưng màu đen được đánh giá cao hơn). Môi đen và lưỡi có màu hồng. Đuôi luôn vểnh cao và cuộn tròn ở trên lưng. Tai nhỏ, dày, hình tam giác, hơi tròn ở đỉnh tai. Tai dựng đứng và ngả về phía trước. Chân của chúng có màng, giống kiểu chân mèo, vì thế nên bơi rất giỏi. Bộ lông có 2 lớp bao gồm lớp lông cứng, không thấm nước ở phía ngoài và lớp lông dày mềm bên trong. Có các màu trắng tuyền, đỏ, màu hạt vừng và vằn vện. Màu đen không được chấp nhận. Chúng sống khoảng 10 – 12 năm và có thể mắc các bệnh về bệnh về máu, hệ miễn dịch, bệnh ngoài da, mắt.

Là giống chó ngoan ngoãn, dễ bảo, nhưng đôi khi cũng tỏ ra cứng đầu. Rất tận tuỵ và yêu quý gia chủ. Thông minh, can đảm và rất thận trọng. Đây là giống chó khá bướng bỉnh nên cần có sự dạy dỗ chu đáo từ khi còn nhỏ. Đây là một trong những giống chó bảo vệ tốt nhất. Các bà mẹ người Nhật thường giao cho chúng nhiệm vụ trông coi những đứa con của mình. Akita là giống chó trung thành và rất quyến luyến với chủ. Tuy vậy chúng rất hung dữ đối với các con chó và vật nuôi khác, vì vậy phải luôn cảnh giác để tránh đụng độ. Tốt nhất là khi ra ngoài cần cho chúng đeo rọ mõm. Khi bị trêu chọc, chúng có thể cắn.

Giống chó này có tính sở hữu rất cao. Cần có sự dạy dỗ hết sức kiên trì vì Akita có khả năng tư duy độc lập. Điều này có nghĩa là chúng sẽ ít khi nghe theo những mệnh lệnh mà chúng coi là vô lý.Akita rất thích sự chăm sóc của gia chủ. Giọng của chúng có nhiều âm thanh rất hay, tuy vậy không phải là loại chó thích sủa. Đây là giống chó có thể sống trong điều kiện căn hộ nếu có không gian dành cho nó tập luyện. Chúng có mức độ hoạt động trong nhà vừa phải và thoải mái nhất khi ở không gian rộng như là sân vườn. Rất cần chăm sóc bộ lông. Chúng rụng lông rất nhiều, hai lần trong năm. Cần chải lông bằng bàn chải chuyên dụng. Chỉ tắm khi thật cần thiết vì có thể làm rụng lớp lông không thấm nước bên ngoài. (Nguồn Wiki)

#7 BEAGLE

Chó săn thỏ (beagle) là một giống chó nhỏ trong các chó săn và chuyên dùng để săn thỏ, chúng dễ nhận biết bởi bộ lông tam thể mềm mượt đặc trưng. Chúng rất dễ nuôi, thân thiện và đáng yêu với con người, có thể vừa trông nhà, vừa chơi đùa cùng trẻ con trong nhà. Khi được nuôi thả tự do, chúng thích đi khám phá mọi thứ nhờ vào chiếc mũi thính của mình. Chữ beagle vốn xuất phát từ “be’geule”, chỉ thói quen reo hú của loài này sau những buổi đi săn. Chúng cũng rất thân thiện, dễ dàng làm quen với con người cũng như những con chó khác.

Đây là một giống chó săn khá phổ biến, có đôi chút giống chó săn chân lùn (Basset hound) cả trong sự xuất hiện cũng như trong tính khí. Nguồn gốc của nó chưa được rõ ràng, cho dù chúng đã được nuôi tại Anh quốc trên 500 năm. Giống chó này có thể bắt nguồn từ lai tạo giữa giống Harrier và giống chó săn Anh khác. Beagle thường dùng để đi săn theo đàn, cũng có thể dùng một, hoặc một cặp chó để săn thỏ rừng, gà lôi và chim cút. Nó cũng được dùng như một loài chó phát hiện ma tuý tốt và là người tốt của gia đình. Do chúng khá đồng nhất trong kích thước, ở một kích thước nhỏ bé vừa phải, Beagle thường được dùng để thử nghiệm thuốc. Chúng được phân loại là chó săn loại nhỏ. Giống chó Beagle đã chứng tỏ khả năng thích ứng rất cao. Tại Anh quốc, chúng được sử dụng để săn thỏ, trong khi đó, tại Sri Lanka, chúng được cho săn heo rừng.

Giống Beagle có bộ lông ngắn, bóng mượt và dễ chăm sóc, nó có thể gồm bất cứ màu lông thông thường nào của chó săn, như tam thể, đen và nâu vàng, đỏ và trắng, vàng cam và trắng, hoặc màu vàng xanh sẫm và trắng. Bộ lông sát với người, cứng và có độ dài trung bình. Xương sọ rộng và hơi tròn, mõm thẳng, vuông vắn. Bàn chân tròn và chắc khỏe, cứng cáp. Mũi đen với lỗ mũi rộng để đánh hơi. Hai tai dài, rộng và nhô ra bên đầu. Mắt màu nâu hoặc màu nâu đỏ luôn biểu lộ sự cầu khẩn, xin xỏ. Đuôi của Beagle lúc nào cũng như đang vui mừng, nhưng đuôi không bao giờ cong lên trên lưng. Khi đi săn, Beagle có một giọng tru và tiếng sủa rất riêng biệt. Tiếng sủa của Beagle có thể đem lại niềm vui thích cho người thợ săn, nhưng lại làm phiền gia đình và những người hàng xóm. Beagle có khuynh hướng đi theo những gì chúng đánh hơi thấy.

Beagle là một trong những giống chó săn đánh hơi phổ biến, bởi sinh lực, sự luôn sẵn sàng, tính tình vui vẻ và dịu dàng của chúng. Beagle là giống chó lịch thiệp, dịu dàng, hiếu động và cũng rất hiếu kỳ, thích gần gũi và quý mến mọi người. Là một dòng chó nhỏ với cái đuôi tinh nghịch. Thân thiện, dũng cảm và thông minh. Ôn hoà và đáng yêu, đặc biệt là với trẻ con và tử tế với các con chó khác, nhưng không nên phó mặc chúng với các loài vật nuôi khác, trừ khi chúng được làm quen với mèo và các con vật nuôi trong nhà từ khi còn nhỏ. Chúng quyết đoán, thận trọng. Giống chó này không thích ở một mình. Chúng có thể mải mê với cuộc thám hiểm riêng của mình nếu được cởi bỏ dây xích trong vùng không có rào chắn.

Cẩn thận khi lựa chọn con Beagle. Beagle có thể nuôi trong điều kiện chung cư, nhà tầng, nếu cho chúng nhiều cơ hội để được ra ngoài. Chúng rất năng hoạt động trong nhà, và một mảnh sân nhỏ cũng là đủ với chúng. Đầy nghị lực, sở hữu một khả năng chịu đựng cao, Beagle cần nhiều bài luyện tập, bao gồm đi dạo trong thời tiết mát mẻ. Chúng nên có một khoảng sân có rào chắn với kích thước hợp lý để nô đùa. Phải luôn dùng dây xích khi đi dạo với chúng, nếu không sẽ gặp rủi ro nếu chúng biến mất vì mải chạy đuổi theo những con vật nhỏ nào đó chúng gặp trên đường.

Lông của Beagle ngắn và mượt nên dễ chăm sóc, tắm bằng xà bông có chất tẩy rửa nhẹ khi cần thiết. Đôi khi cần lau người cho chúng bằng dầu gội khô. Phải kiểm tra tai chúng thường xuyên và thật cẩn thận để tránh nhiễm trùng và phải cắt ngắn móng chân cho chúng. Giống chó này có mức độ rụng lông trung bình. Ngay từ nhỏ, chúng cần được kiên trì huấn luyện, như vậy mới có thể đảm bảo khi tháo xích cổ cho chó, có thể gọi chúng quay về một cách dễ dàng. (Nguồn: Wiki)

#8 Golden Retriever

Golden Retriever là giống chó có kích thước trung bình. Thuộc họ nhà chó ưa hoạt động, chơi đùa, chúng rất trung thành và thông minh. Chúng còn có tên gọi khác là chó săn mồi hoặc chó tha mồi. Golden Retriever là loài chó có bản năng truy tìm và phát hiện con mồi rất nhạy bén nên có thể làm chó đặc vụ để dò tìm Ma túy,… Đặc điểm chung của loài này là rất hiền lành và thông minh, trung thành và thích chơi đùa.

Golden Retriever được lai tạo ra đầu tiên tại các hòn đảo Anh quốc. Nguồn gốc của chúng có lẽ là sự pha trộn, phối giống giữa các giống Retriever lông vàng thẳng, Tweed Water Spaniels lông ngắn, các giống spaniels, setters khác và thậm chí là giống Newfoundland và Bloodhound.

Trên thực tế là giống chó này được giới thiệu lần đầu tiên với tên gọi là Golden Flat-Coat. Ngày nay, đây là giống chó bầu bạn phổ biến nhất trong các gia đình trên toàn thế giới. Trong các cuộc thi tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có rất nhiều những chú chó thuộc giống Golden Retriever đoạt giải quán quân.

Golden Retriever là giống chó loại nhỡ có thân hình cân đối, khỏe mạnh. Chúng có bộ lông màu từ vàng kem đến vàng nâu (màu đỏ không được công nhận). Bộ lông được cấu tạo bởi lớp lông không thấm nước bên ngoài và một lớp lông mịn dày bên trong. Chúng có cái đầu to, mõm hơi vát nhưng kèm với bộ hàm rộng và rất khỏe cùng với hàm răng sắc bén. Mũi có màu đen, mắt biểu cảm màu nâu với viền sẫm. Đôi tai cỡ nhỡ, cụp. Cổ dài, khỏe và khá cơ bắp. Ngực rộng. Đuôi dài và không bao giờ cong.

Giống chó này còn được biết đến như những người giúp việc cừ khôi cho những thợ săn chim và vịt trời. Chúng có khả năng đánh hơi cực tốt và vì thế thường được sử dụng không chỉ cho các cuộc săn hoặc tìm dấu vết mà còn được trang bị cho các đơn vị quân đội, cảnh sát để phát hiện ra ma túy.

Ngoài ra, một trong những ưu điểm nữa của giống chó này là luôn mong muốn làm hài lòng chủ nhân, khả năng học hỏi và tình yêu con người đã biến chúng trở thành những người giúp việc tận tụy cho người mù và những người tàn tật khác.

Đây là loài chó rất thông minh, luôn cư xử đúng mực và rất yêu chủ. Chúng dễ dạy dỗ và luôn tỏ ra kiên nhẫn và dịu dàng đối với trẻ nhỏ. Trung thành, tin cậy, dễ bảo và luôn tìm cách làm vừa lòng chủ nhân là các đức tính của Golden Retriever.

Đây là giống chó ưa thích các hoạt động ngoài trời. Nhờ có trí thông minh nên chúng luôn tỏ ra xuất sắc trong các cuộc thi tài. Golden Retriever luôn tỏ ra thân thiện với tất cả mọi người, kể cả các cá thể chó khác. Chính vì vậy nên giống chó này chỉ có rất ít bản năng bảo vệ.

Nhưng chúng có thể là người trông nhà tốt, thường cất tiếng sủa rất to khi có người lạ xuất hiện. Giống chó này luôn cần có sự quan tâm của mọi người xung quanh.

Nếu bị cách ly hoặc xa chủ trong thời gian dài, chúng có thể trở nên tai quái. Các tài năng chính của giống chó này là đi săn, dò dấu vết, nhặt đồ, phát hiện ma túy, thi đấu và diễn trò. Ngoài ra, chúng còn rất thích bơi lội. (Nguồn: Wiki)

#9 SIBERIAN HUSKY

Chó Husky Sibir (Tiếng Nga: сибирский хаски, “Sibirsky hasky”, Phiên âm: “hât-s-ki”) là một giống chó cỡ trung thuộc nòi chó kéo xe có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Sibir, Nga. Xét theo đặc điểm di truyền, chó Husky được xếp vào dòng Spitz. Chó Husky có hai lớp lông dày, tai dựng hình tam giác và thường có những điểm nhận dạng khác nhau trên lông.

Chó Husky là giống chó rất ưa thích vận động do tổ tiên của chúng sống ở một trong những nơi lạnh giá nhất như Siberia, ở đây chó Husky nguyên thủy được phối giống bởi người Chukchi ở Đông Bắc Á nhằm mục đích kéo xe hàng trên một quãng đường dài trong điều kiện lạnh giá khắc nghiệt. Giống chó này được đưa tới Alaska trong thời kì khai thác vàng ở Nome rồi sau đó trở nên phổ biến ở Hoa Kỳ và Canada. Ban đầu Husky được nuôi để làm chó kéo xe nhưng về sau chúng trở thành thú nuôi trong gia đình.

Các giống chó Husky Sibir, Samoyed, và Alaskan Malamute đã được công nhận đều có chung nguồn gốc từ một giống chó cổ đại theo kết quả ADN công bố năm 2004. Từ năm 1908, chúng được du nhập vào Alaska trong thời kỳ khai thác vàng và được sử dụng là chó kéo xe và chó đua xe. Ở đây, xe kéo bởi vì chó Husky nhanh chóng trở thành phương tiện phổ biến lúc bây giờ. Năm 1930, việc xuất khẩu chó ở Siberia bị dừng lại, cũng là năm mà “câu lạc bộ chó giống Mỹ (AKC) công nhận giống chó Husky Sibir. Chín năm sau, giống chó này lần đầu tiên được đăng kiểm ở Canada. Năm 1938 United Kennel Club công nhận giống chó “Husky Bắc Cực” và đổi tên thành Husky Sibir vào năm 1991 cho tới nay. Giống chó Husky nguyên thủy được nuôi và phối giống bởi người Chukchi được cho là đã tuyệt chủng nhưng một phóng viên của tạp chí “Geographical magazine” vào năm 2006 đã đưa ra báo cáo chúng còn sống sau chuyến công tác của anh tại Siberia.)

Lông của giống Husky dày hơn đa phần lông các giống chó khác gồm 2 lớp, một lớp lông dày và ngắn lót phía trong và một lớp lông mỏng hơn, dài hơn bao phủ bên ngoài giúp bảo vệ chúng khỏi cái lạnh khắc nghiệt vùng băng giá. Chúng có thể chịu được cái lạnh từ −50 đến −60 °C (−58 đến −76 °F). Chó husky thay lông tơ thường xuyên, nếu sống cùng con người thì cần chải lông hàng tuần.

Chó Husky Sibir có rất nhiều màu lông khác nhau nhưng hầu hết sẽ có chân, mõm, đốm cuối đuôi là lông trắng. Thường gặp nhất là Husky có màu lông đen-trắng, sau đó là nâu (đỏ)- trắng, xám (phấn) – trắng, trắng, và màu lông hiếm “agouti”.

Mắt chó Husky hình quả hạnh nhân đặt cách nhau vừa phải và hơi xếch lên. Màu mắt cũng đa dạng như xanh da trời, xanh nước biển, màu hổ phách, xanh lá cây, hoặc nâu. Một số con có thể có 2 mắt với mỗi mắt là một màu khác nhau. Cũng có thể có một hoặc cả 2 mắt có màu pha trộn (parti-colored) nửa xanh nửa nâu. Tất cả những màu mắt nêu trên đều được chấp nhận là mắt của Husky “thuần chủng”.

Xếp theo màu lông, chó lông xám thì mũi có màu đen, lông đen thì có mũi nâu, lông nâu thì có mũi đỏ xẫm, và lông trắng thì mũi màu xám nhạt

Đuôi của chó Husky dài và rất rậm lông, chúng thường hay cụp đuôi nếu không có hoạt động, khi chạy nhảy hoạt động chúng thường uốn cong đuôi lên lưng để cơ thể có thêm độ ấm. Đây cũng là đặc điểm chung của một số giống chó có nguồn gốc từ xứ lạnh như Akita, Alaskan Malamute hay Samoyed. Khi ngủ chó Husky sẽ vòng đuôi qua mõm để giữ ấm cho mũi như trong ảnh. Chúng sẽ hạ thấp đuôi khi thư giãn và dựng cong đuôi khi phấn khích hoặc tò mò.

Chó Husky được xem là có ngoại hình và hành vi giống với tổ tiên của chúng là loài chó sói. Chúng thích liên lạc, giao tiếp với bằng cách hú hơn là sủa. Chúng có xu hướng đi lang thang và tìm cách trốn thoát sự tù túng. Chó Husky được xem là bậc thầy đào tẩu, chúng có thể đào hầm phía dưới, gặm nát, hoặc nhảy qua hàng rào cao.

Đây là giống chó thân thiện với trẻ em, người Chukchi còn sử dụng chó Husky như người bảo vệ con cái của họ. Vì là giống chó có nhiều năng lượng nên đa phần có dấu hiệu tăng động, phá phách khi sống nuôi nhốt trong nhà chật hẹp nên cần có phương pháp tập luyện nghiêm ngặt hơn so với những giống chó khác. Chúng có thể sẽ đuổi theo mèo, thú nhỏ một khoảng cách rất xa và đi lạc, sẽ rất nguy hiểm nếu chúng sống ở một số quốc gia có nạn bắt trộm chó phổ biến như Trung Quốc hay Việt Nam nên dây dắt là công cụ cần thiết khi đi ở ngoài. Ngoài ra tính bầy đàn của Husky rất mạnh nên chúng thích sống chúng với những con chó khác, hoặc người chủ nên thường xuyên ở bên cạnh. Chó Husky sẽ hú khi nó cảm thấy bị bỏ rơi hay cô đơn. Chó Husky thích chạy vì đó là bản năng của chúng. Theo lời khuyên của các chuyện gia, người nuôi chó Husky nên cho chúng chạy ít nhất 2 lần/ ngày để rút bớt năng lượng của chúng, hạn chế sự phá phách trong nhà. Chó Husky đứng thứ 45 trong bản xếp hạng những giống chó thông minh nhất. (Nguồn: Wiki)

#10 POMERANIAN

Chó Phốc sóc (Pomeranian gọi tắt là Pom) là một giống chó cảnh cỡ nhỏ, có ngoại hình xinh xắn, có nguồn gốc từ châu Âu, chúng nổi tiếng và được ưa chuộng bởi ngoại hình bắt bắt của mình. Với tiếng sủa vang rền, dai dẳng không dứt khả năng cảnh giác cao độ, những con chó này lại có thể trở thành những chon canh giữ cửa tốt. Những ưu điểm khác của giống chó Pom như trông nhà, rất lanh lợi và có thể biểu diễn được những kĩ xảo nhỏ trong điều kiện được luyện tập

Chó Pom được lấy tên từ địa danh Pomerania là vùng đất ở Trung Âu ngày xưa, ứng với miền Tây Bắc Ba Lan và Đông Bắc Đức ngày nay và nguồn gốc của chúng là từ giống Spitz cổ. Lúc đầu, những con chó Pom to hơn hiện nay nhiều với cân nặng có khi lên đến khoảng 13 kg và hay được giao cho nhiệm vụ chăn cừu. Vào năm 1988, Nữ hoàng Victoria đã nhân giống loài chó này và chính bà đã khiến kích cỡ của chúng nhỏ lại và nhờ thế chúng bắt đầu trở nên rất phổ biến ở Anh.

Chó Pom là giống chó cỡ nhỏ, kích thước chỉ cỡ bằng một món đồ chơi, Chiều cao từ 7-12 inches (18-30 cm), trọng lượng từ 3-7 pounds (1-3 kg), chúng có cái đầu hình nêm và rất cân xứng với cơ thể, một số con có gương mặt giống như loài cáo, một số con khác lại giống như búp bê. Đôi mắt chúng hình quả hạnh, to vừa phải và có màu sẫm, trông rất sáng và thể hiện rõ sự linh lợi và thông minh. Tai chó Phốc sóc nhỏ nhắn, nhọn dựng thẳng trên đầu, hàm răng hình kéo và cái mũi be bé sẽ cùng màu với bộ lông. Chúng có cái đuôi xù, trông rất mềm mại và uốn cong lên lưng. Giống chó này cũng có bộ lông kép dày với lớp ngoài dài, thẳng và hơi cứng còn lớp trong thì ngắn, mềm và dày. Lớp lông ở vùng cổ và ngực chúng sẽ dài hơn. Nhìn chung trông chúng nhỏ nhắn xinh xắn, ấm áp và mềm mại. Màu lông của chúng cũng khá đa dạng: có thể là màu đỏ, cam, kem, trắng, xanh, nâu, đen…

Chó Pom cũng thuộc một giống chó khó tính trong việc ăn uống, chúng khá kén ăn. Chó Pom rất hay bị rụng lông (lớp ngoài) và lớp lông mềm ở dưới của chó Pom sẽ rụng một đến hai lần một năm. Chó Pom có xu hướng bị trật xương khớp gối, khuỷu chân sau, bệnh tim, viêm nhiễm mắt, sâu răng và bị rụng răng sớm. Nên cho chó Pom ăn thức ăn khô dành cho chó và xương sữa cứng giòn để có thể giúp răng và lợi chúng khỏe hơn. Những con chó Pom mẹ có kích cỡ nhỏ thường được cho sinh mổ. Và giống chó này khi về già cũng có thể phải đối mặt với vấn đề rụng lông và hói. Tuy nhiên, vì lớp lông xù dày nên chủ nuôi cũng cần phải cẩn thận để tránh chúng bị quá nóng. Thường xuyên chải lông cho những chú chó Pom vì chúng có bộ lông hai lớp rất dày và nên dùng dầu gội khô khi cần thiết.

Chó Pom tuy nhỏ bé nhưng tính cách thật sự rất sôi nổi và sống động. Chúng rất thông minh, ham học hỏi và trung thành, tò mò và hiếu động. Tuy tinh nghịch như vậy, nhưng bản tính của chó Pom lại khá dễ bảo và tình cảm, chính vì thế, chúng có thể là người bạn đồng, cũng có thể là một diễn viên xiếc tài năng. Chó Pom cũng khá độc lập, thuộc kiểu nhí nhảnh tự chơi tự vui nên đây là giống chó ít cần đồ chơi. Nên huấn luyện ngay từ đầu, để tránh chúng sủa dai dẳng không dứt. Nếu được dạy dỗ chu đáo thì giống chó này không hề gặp rắc rối gì trong việc hòa thuận với các vật nuôi khác trong nhà. Chúng khá thân thiện nhưng không bám dính chủ nhân. Là loại chó bầu bạn tốt với người cao tuổi.

Giống chó này bị xếp vào một trong những giống chó dễ mắc Hội chứng chó nhỏ (Small Dog Syndrome) đây là hội chứng mà những chú cún nhỏ xinh xắn sẽ rất khó chiều, hay yêu sách và nghĩ rằng mình mới là chủ của con người. Khi chó Pom đã mắc hội chứng này rồi thì không còn là dễ thương hay thông minh mà dẫn đến những vấn đề vô cùng lớn, những dấu hiệu mắc bệnh đầu tiên khi khi hành vi của chúng đã bị ảnh hưởng quá nhiều và có những đặc tính không hề thuộc về giống chó Pom xuất hiện như rất khó tính, đôi khi lại hay lo lắng, bướng bỉnh, liều lĩnh và dám cả gan tấn công cả những chú chó lớn hơn.

Chó Pom có thể thích nghi vô cùng tốt với cuộc sống trong những căn hộ không có sân vì ở trong nhà chúng cũng có thể rất vui vẻ và sống động. Hoạt động Thể Chất Phù Hợp Như hầu hết các giống chó khác, chó Pom cũng cần được dẫn đi bộ hằng ngày. Dù chơi đùa cũng đã có thể là những bài tập thể dục khá tốt cho giống chó này, nhưng bản năng của chúng vẫn là đi bộ, nếu không thì sẽ dễ gặp những bệnh về hành vi và cách cư xử. Nên dẫn chúng đến những nơi rộng rãi, thoáng mát để chúng có thể tự do và thả lỏng bản thân một chút. (Nguồn: Wiki)