Top 8 # Giải Thích Câu Tục Ngữ Chó Treo Mèo Đậy Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Misssportsvietnam.com

Chó Trong Tục Ngữ, Thành Ngữ Dân Gian

– Chó ăn vã mắm (ý chỉ sự cãi nhau, tranh giành).

– Chó ăn đá, gà ăn sỏi (đất đai khô cằn).

– Chó dữ mất láng giềng.

– Chó dại tha cứt về nhà (hành động ngu dốt).

– Chó cái cắn con (độc ác).

– Chó càn cắn giậu (cùng đường làm bậy).

– Chó cắn áo rách (khốn quẫn).

– Chó cậy nhà, gà cậy chuồng (dựa vào cái khác để tự tin và tăng sức mạnh).

– Chó chê mèo lắm lông (chỉ nhìn thấy cái xấu ở người khác, trong khi mình cũng không ra gì).

– Chó chạy ruộng khoai (lông bông, không mục đích).

– Chó chạy hở đuôi (cây trồng cằn cỗi).

– Chạy như chó dái (chạy nhiều, đi nhiều, không làm việc).

– Chạy như chó phải pháo (rất sợ hãi).

– Chó ông thánh cắn ra chữ (thơm lây, có uy tín nhờ người khác).

– Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi (kệch cỡm, khó có thể xảy ra).

– Chó có (mặc) váy lĩnh (không tương xứng, lố bịch, thành trò cười).

– Chó gầy hổ mặt người nuôi.

– Chó già giữ xương (tham lam, giữ cái mình không dùng được nữa).

– Chó giữ nhà, gà gáy sáng (mỗi người một việc).

– Chó khô mèo lạc/Mèo đàng chó điếm (loại không ra gì).

– Chó khôn tứ túc huyền đề (bốn chân có chấm đen).

– Đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt (kinh nghiệm chọn giống chó).

– Chó lên da, gà lên xương (những bộ phận nếu bị thương thì mau lành).

– Chó chết hết cắn (sự độc ác đã kết thúc).

– Chó chực chuồng chồ (chuồng chồ: chuồng phân, nơi đại tiện; chỉ sự nhục nhã vì miếng ăn).

– Chó chùa bắt nạt (ăn hiếp) chó làng (không biết người biết ta).

– Nhờn chó chó liếm mặt (thân mật quá mức, bị vượt qua phép tắc).

– Chó nhảy bàn độc (gặp thời cơ, liều lĩnh, được lợi).

– Chó chui gầm chạn (nhục nhã cam chịu, thường để chỉ những thân phận ở rể khi xưa).

– Ăn cơm chủ nào sủa cho chủ ấy (tương tự: Ăn cây nào rào cây ấy).

– Chó sủa ma (vu vơ, không xác định chính xác đối tượng).

– Dấm dẳng như chó cắn ma (không quyết liệt, khó chịu).

– Mồm chó, vó ngựa (những chỗ nguy hiểm).

– (Ghét nhau) như chó với mèo.

– Chó ngáp phải ruồi (may mắn ngẫu nhiên, đột xuất).

– Chó treo, mèo đậy (cần cẩn thận).

– Chó đen giữ mực (bản tính khó thay đổi, tương tự: Ngựa quen đường cũ).

– Treo đầu dê, bán thịt chó (nói một đàng, làm một nẻo, lừa bịp).

– Chó vả đi, mèo vả lại (tai họa liên tiếp).

– Chó tháng ba, gà tháng bảy (gầy, không ngon vì đấy là những tháng giáp hạt).

– Đá mèo quèo chó (trút nóng nảy, bực tức lên kẻ khác).

– Hổ xuống đồng bằng gặp chó cũng chào (thất thế, phải lụy cả kẻ yếu gấp ngàn lần mình trước kia).

– Khuyển mã chi tình (tình cảm của chó ngựa: thủy chung, bền chặt).

Chử Anh Đào

Con Mèo Trong Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam

    Ăn nhỏ nhẻ như mèo: Là ăn từ tốn, từng miếng một. Phụ nữ ăn nhỏ nhẻ được khen là có nết. Nhưng đàn ông ăn như mèo thì bị chê bai, cho là tật xấu.

   Buộc cổ mèo, treo cổ chó: Nói kẻ hà tiện, có tính bủn xỉn.

   Chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào: (Mỉu: do tiếng miu là mèo đọc chệch ra) nghĩa bóng nói rằng mỗi người đều có sở trường riêng của người ấy, chưa chắc ai đã hơn ai.

   Chó giữ nhà, mèo bắt chuột: ý nói ai cũng có nghề nghiệp chuyên môn của mình, đừng tị nạnh nhau, và cũng đừng can thiệp vào việc của nhau.

   Chó chê mèo lắm lông: Phê phán kẻ không thấy lỗi mình, mà chỉ thấy lỗi người.

   Chó gio, mèo mù: Dùng để chê những người đần độn, ngu ngốc.

   Chó khô, mèo lạc: Chê hạng người không có tài năng.

   Chó tha đi, mèo tha lại: Nói những vật vô giá trị bỏ lăn lóc chẳng ai thèm lấy.

   Chó treo, mèo đậy: Thức ăn treo cao để tránh chó ăn, và đậy kỹ để không cho mèo lục đớp, ý khuyên cảnh giác cửa nẻo rương hòm để phòng trộm cuỗm mất.

   Có ăn nhạt mới thương tới mèo: Ngụ ý người ta có lâm cảnh khổ thì mới biết thương người không may mắn bằng mình.

   Chuột cắn dây buộc mèo: Làm ơn cho kẻ có thể hại mình.

   Chuột gặm chân mèo: Làm một việc liều lĩnh, nguy hiểm.

   Chửi chó mắng mèo: Tỏ vẻ tức giận người khác bằng cách chửi mắng vu vơ.

   Đá mèo, quèo chó: Bực mình người khác nhưng lại trút bực tức qua những con vật nuôi trong nhà.

   Giấu như mèo giấu cứt: Chê những người giấu diếm thứ gì, điều gì đó quá ư là kỹ.

   Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt: Càng mất quyền lợi ở địa vị cao thì càng đau khổ hơn người ở địa vị thấp.

   Im ỉm như mèo ăn vụng: ám chỉ những kẻ cố tình che giấu tội lỗi bằng cách im lặng tuyệt đối, hoặc những kẻ hễ thấy lợi là giấu giếm hưởng một mình, không cho ai hay biết.

   Không có chó bắt mèo ăn cứt: Phải dùng một người trong một việc không đúng với sở trường, khả năng của người đó.

   Lèo nhèo như mèo vật đống rơm: Nói dai, nói đi nói lại để nài xin.

   Lôi thôi như mèo sổ chuột: (Sổ: làm sẩy mất) chỉ sự thẫn thờ, ngơ ngác của người đang tiếc rẻ, vì trót lầm lỡ một dịp may nào đó.

   Mèo cào không xẻ vách vôi: Ngụ ý khuyên trước khi làm việc gì phải tự lượng sức mình, cố gắng cho lắm cũng vô ích.

   Mèo con bắt chuột cống: Chỉ người trẻ tuổi tài cao, làm được việc mà nhiều người lớn làm không nổi.

   Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu: Một quan niệm mê tín từ xưa lưu truyền lại.

   Mèo già hóa cáo: Ngụ ý người già sống lâu nên đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Cũng còn nghĩa là người mới đầu làm việc gì thì rụt rè nhút nhát, nhưng ở lâu năm thì tinh ma ranh mãnh.

   Mèo già lại thua gan chuột nhắt: ý nói người lớn tuổi thì không còn bạo gan như kẻ thanh niên.

   Mèo hoang lại gặp chó hoang;

anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai:

   Chỉ những kẻ vô lại mới kết bè tựu đảng với nhau.

   Mèo khen mèo dài đuôi: Tự đề cao, khen ngợi mình.

   Mèo làm ai nỡ cắt tai;

  gái kia chồng rẫy khoe tài làm chi?:

   (Rẫy: bỏ, chê) chỉ những người đàn bà bị chồng chê, chồng bỏ vì hư đốn, phải về nhà cha mẹ ruột, thay vì chỉ còn biết âm thầm sống đến già, không mong được ai cưới hỏi nữa, nhưng lại khoa trương nọ kia để củng cố danh giá mình.

   Mèo lành chẳng ở mả; ả lành chẳng ở hàng cơm: Chê người đàn bà ngày hai bữa cứ ăn cơm hàng cháo chợ, không lo chợ búa cơm nước cho gia đình, đó là tính xấu, tính hư.

   Mèo mả gà đồng: ám chỉ hạng người vô lại, trai trộm cướp, gái lăng loàn khiến ai cũng khinh ghét.

   Mèo mù móc cống: Chỉ những kẻ không còn phương kế sinh nhai.

   Mèo mù vớ cá rán: Vận may bất ngờ đến với kẻ nghèo hèn đang túng quẫn.

   Mèo nhỏ bắt chuột con: Khuyên hãy biết liệu sức mình mà đảm đương công việc. Tài hèn sức mọn mà ham đảm trách việc lớn thì chỉ chuốc lấy thất bại thôi.

   Mèo tha miếng thịt xôn xao;

hùm tha con lợn thì nào thấy chi:

  Nghĩa bóng nói đến kẻ có quyền hành làm việc sai trái thì không sao, trong khi kẻ dưới bị trừng phạt nặng.

  Mèo uống nước bể chẳng bao giờ cạn: Khuyên người biết tiện tặn chi tiêu thì không sợ túng.

   Mèo vật đụn rơm: Chỉ kẻ tài thô trí thiển mà muốn cáng đáng việc lớn lao quá sức mình, không đúng với khả năng cho phép.

   Mỡ để miệng mèo: ý nói đặt trước mặt người ta một thứ gì mà người ta đang mong muốn, thèm khát.

   Như mèo thấy mỡ: Giễu người tỏ vẻ hăm hở trước thứ gì mình thèm muốn.

  Sắc nanh, chuột dễ cắn được cổ mèo: Dù kẻ thù nguy hiểm đến cỡ nào nếu mình có mưu mẹo, có phương tiện thì mình cũng thắng.

   Tiu nghỉu như mèo cắt tai: ý nói vì thất vọng nên buồn rầu lắm, không muốn nói năng, không muốn làm gì.

   Rình như mèo rình chuột: Sự kiên nhẫn, siêng năng cho đến khi được việc mới thôi.

  Vợ quá chiều ngoen ngoẻn như chó con liếm mặt;

  vợ phải rẫy tiu nghỉu như mèo lành mất tai:

   Khuyên các đấng ông chồng không nên nuông chiều vợ quá, mà cũng không nên hiếp đáp quá. Nuông chiều thì vợ lờn mặt, lâu dần sẽ lấn áp quyền chồng. Còn hiếp đáp thì vợ buồn rầu, gia đình mất hòa khí, mất hạnh phúc.

Trần Tiến Khải (Theo Tổ Văn)

Stt Về Mèo, 47+ Dòng Danh Ngôn &Amp; Ca Dao Tục Ngữ Về Mèo Hay Nhất

Ngày nảy ngày nay, mèo là thú cưng yêu thích của rất nhiều người bởi vẻ đáng yêu và xinh xắn, chúng không còn biết bắt chuột nữa. Theo các nhà khoa học, mèo rừng đã được thuần hoá thành mèo nhà cách đây ít ra cũng gần vạn năm. Đến chừng ấy thời gian nên mèo rất gần gũi với con người, tuy nhiên, bên cạnh vẻ đáng yêu, dễ thương thì chúng cũng có một vài “tật xấu”. Từ đó, tập quán của mèo theo tháng năm qua cuộc sống và kinh nghiệm của ông cha ta, nó đã biến thành những dòng thành ngữ, ca dao, những lời ru lọt lòng và cả những câu chuyện cổ tích đầy thú vị.

1, Tỏ ra thèm thuồng, háo hức một cách quá lộ liễu: “Như mèo thấy mỡ”.

2, Mình cũng chẳng ra gì mà lại phê phán kẻ khác: “Chó chê mèo lắm lông”.

3, Cười châm biếm cho trường hợp gặp may bất ngờ đạt được cái hoàn toàn ngoài khả năng của mình: “Mèo mù vớ cá rán”.

4, Người có tính cẩu thả, hời hợt, làm việc ẩu, không đến nơi đến chốn: “Rửa mặt như mèo”.

5, Làm ăn, kinh doanh không nên quá ảo tưởng vượt khả năng của mình: “Mèo nhỏ bắt chuột con”.

6, Kinh nghiệm lâu năm đúc kết bí quyết thắng lợi: “Mèo già hoá cáo”.

7, Cảnh giác đề phòng, đối phó với các thủ đoạn trộm cắp: “Chó treo, mèo đậy”, hay “Mỡ để miệng mèo”.

8, Tình yêu, bè bạn sớm nắng chiều mưa, hay cãi nhau, bất hoà: “Yêu nhau như chó với mèo”.

9, Mỉa mai những kẻ tự đề cao mình nhưng cũng chẳng tài cán gì: “Mèo khen mèo dài đuôi”.

10, Tình huống trớ trêu, giữa đám đông khác giới mà vẫn phải cô đơn: “Cơm treo, mèo nhịn đói”.

11, Hạng người lăng nhăng, sống đầu đường, xó chợ, ăn chơi đàng điếm, không có nhân cách, đáng khinh: “Mèo mả gà đồng”.

12, Trong tướng số học, người nữ “ăn như mèo” mới là đắc cách, là tướng sang trọng, tướng mệnh phụ, còn người nam thì phải ăn hùng hục như cọp mới là tướng đại quyền; ngược lại thì hỏng: “Nam thực như hổ, Nữ thực như miu”.

1, Mèo hoang lại gặp chó hoang, anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai;

2, Mèo tha miếng thịt thì đòi, cọp tha con lợn mắt coi trừng trừng;

3, Con mèo đập vỡ nồi rang, con chó chạy lại phải mang lấy đòn;

4, Ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa;

5, Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu;

6, Mẹ chồng ở với nàng dâu, như mèo với chuột thương nhau bao giờ;

7, Mèo nằm bồ lúa khoanh đuôi, vợ anh đẹp lắm: đuổi ruồi không bay;

8, Chồng người đi ngược về xuôi, chồng tôi ngồi bếp sờ đuôi con mèo;

9, Còn duyên anh cưới ba cheo, hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi…

10, Mèo lành ai nỡ cắt tai; Gái kia chồng bỏ khoe tài làm chi?

“Chú Khuyển” Trong Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

“Chú khuyển” trong ca dao tục ngữ Việt Nam

1. Xem con chó là một biểu tượng xấu xa và lấy đó để ví von, nói về những hiện tượng tiêu cực của xã hội hoặc của con người: 74/202 câu (36,6%).

2. Nói về tập tính của loài chó, từ đấy liên hệ đến tính tình của con người: 53/202 (26,3%).

3. Quan sát từ con chó để nói về những kinh nghiệm sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người: 75/202 (37,1%).

Về nội dung các câu tục ngữ loại thứ nhất, chó bị xem như con vật có rất nhiều tính xấu. Liên hệ để nói về người có câu Làm người thì khó, làm chó thì dễ khá tổng quát, còn nói cụ thể thì về tính tham lam có câu Chó có chê cứt thì người mới chê tiền, về thói hay tranh giành, có câu Hục hặc như chó với mèo, về thói ỷ lại thì Chó cậy gần nhà, gà cậy gần vườn. Câu Chó nhảy bàn độc nói về kẻ cơ hội chiếm địa vị cao, câu Chó mặc váy lĩnh, Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi chỉ kẻ không có đức, tài mà hợm hĩnh, kiêu kì, đua đòi, lố bịch. Câu Chó chực máu giác, Chó chực chuồng chồ chỉ kẻ cam lòng chờ đợi, kiếm chút lợi lộc bẩn thỉu. Những kẻ cơ hội, xui nguyên giục bị là những kẻ Xuỵt chó bụi rậm, Quăng xương cho chó cắn nhau. Người ăn nói thiếu chững chạc, lúng búng thường được ví Nói như chó ngậm cám, Nói như chó ăn vụng bột, tật nói dai bị lên án là Nói dai như chó nhai giẻ rách. Thật tội nghiệp cho những chàng trai sống nhờ nhà vợ bị mỉa là Chó chui gầm chạn…

Về nội dung các câu tục ngữ loại thứ hai, có thể phân biệt những câu tục ngữ về tập tính tốt của chó, thống kê cho thấy có 28/202 câu (13,8%) trong đó có những câu về “chức năng” của chó như Chó giữ nhà, gà gáy sáng, những câu về trí nhớ của chó như Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu. Từ cách nằm của chó, con người răn dạy nhau suy nghĩ cho kĩ trước khi nói Chó ba khoanh mới nằm, người ba năm mới nói… Về tập tính xấu của chó, thống kê cho thấy có 25/202 câu (12,3%) với nhiều câu nói đến tính hung dữ của chó như Chó dữ cắn càn, Hàm chó vó ngựa, đến bản năng của chó như Giậm giật như chó tháng bảy, đến bệnh dại của chó và được ngoa dụ với người Chó mà điên dại có mùa/Người mà điên dại không mùa không năm…

Về nội dung các câu tục ngữ loại thứ ba, quan sát từ con chó, dân gian đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm về sinh hoạt vật chất và tinh thần trong đời sống của con người. Đó có thể là kinh nghiệm xem thời tiết Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa, Chó khom lưng vãi cải, chó le lãi vãi mè (Thời tiết lạnh vãi cải, thời tiết đầu hè, nóng, chó le lưỡi, vãi vừng), Bán gà tránh trời gió, bán chó tránh trời mưa. Đó là cách chọn chó để nuôi như Chó khôn tứ túc huyền đề/ Tai thì hơi cúp, đuôi thì hơi cong; Khoang cổ, lổ đuôi, hại chủ nhà rồi thịt chó là món ăn đặc sản đến mức Sống trên đời ăn miếng dồi chó, chết về âm phủ biết có hay không hoặc Chó già, gà non; Gà lọt giậu, chó sáu bát… Về kinh nghiệm trong ứng xử, giao tiếp bởi chó là loài vật dữ, hay cắn nên người phải dè chừng đừng để Chó dữ mất láng giềng. Chó dữ được ví với bọn gian ác cho nên bọn ấy mà chết cũng như chó chết và Chó chết hết cắn hay Chó chết hết chuyện…

1. Theo quan niệm của nhân dân ta, con chó có một số tính tốt nhưng tại sao trong tục ngữ, nhân dân ta nhìn rất rõ những điều xấu của chó hơn là tính tốt của nó? Khác với các vật nuôi khác như con gà, con ngựa, đặc biệt là con trâu được ca ngợi trong ca dao – thể loại có nội dung trữ tình – con chó chẳng được một “lời khen” trong ca dao! Tục ngữ là thể loại với nội dung “lí tính” lại nói nhiều về những tập tính của con chó với hơn 100/202 câu tục ngữ nói điều xấu của con chó. Điều này cho phép chúng ta khẳng định nhận xét có vẻ cảm tính về “chú khuyển” nêu ở đầu bài này là đúng.

2. Tìm nguyên nhân tại sao có nhiều tục ngữ nói về điều xấu của con chó, có thể cho đây là quan niệm chưa đúng của ông bà ta ngày xưa bắt nguồn từ việc cho con chó là loài vật hung dữ, hay cắn người, mang bệnh dại, thường ăn bẩn. Thành kiến đó được nhắc đi nhắc lại, xem là bản chất xấu xa của con chó, làm mờ nhạt những tính tốt của con chó và được đúc kết trong nhiều nội dung với những khía cạnh khác nhau trong tục ngữ nói về con chó.

3 Thật là bất công đối với “chú khuyển” nếu cứ giữ mãi quan niệm nêu trên. Ngày nay, trên thế giới (có thể từ lâu, theo quan niệm của nhiều dân tộc) người ta rất quý “chú khuyển” và đối xử khá văn minh với “chú” như có nhà máy sản xuất thức ăn riêng cho chó, có tiệm may trang phục cho chó, có dịch vụ tắm rửa cho chó, có bệnh viện cho chó, thậm chí còn có những câu lạc bộ để “tìm bạn tình” cho chó. Những chú chó nào lập nhiều thành tích trong truy tìm tội phạm còn được thưởng cả huân chương nữa. Thiết tưởng, ngày nay, quan niệm của chúng ta về “chú khuyển” cũng nên đổi mới để hội nhập với thế giới văn minh. Trong thực tế, ở nước ta cũng đã có những cơ sở dân sự về sản xuất thức ăn cho chó, tiêm phòng dại cho chó, huấn luyện chó làm xiếc, trong quân sự cũng có nhiều cơ sở huấn luyện chó nghiệp vụ và đã  có những “chú khuyển” lập công xuất sắc. Hiện thực cuộc sống thay đổi dần, những điều kiện mới trong nuôi chó, sử dụng chó sẽ có lúc được phản ánh vào văn học nghệ thuật, trong đó có ca dao, tục ngữ. Trong tương lai, chắc quan niệm về điều tốt của “chú khuyển” sẽ phát triển và quan niệm cũ sẽ mất dần đi.

(1) Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên), Kho tàng ca dao người Việt, tập I, II, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2001.

(2) Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên), Kho tàng tục ngữ người Việt, tập I, II, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2002.

(3) Chỉ thống kê những tục ngữ chính, không kể các dị bản.