Xem Nhiều 1/2023 #️ Chẩn Đoán Bệnh Chính Xác Khi Chó Poodle Bị Ho Khạc # Top 1 Trend | Misssportsvietnam.com

Xem Nhiều 1/2023 # Chẩn Đoán Bệnh Chính Xác Khi Chó Poodle Bị Ho Khạc # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chẩn Đoán Bệnh Chính Xác Khi Chó Poodle Bị Ho Khạc mới nhất trên website Misssportsvietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chó Poodle được coi là những chú khuyển cảnh thông minh và lanh lợi. Nhưng đôi khi Poodle lại rất dễ ốm, một trong số các vấn đề thường gặp là chó Poodle bị ho khạc. Nếu nhận thấy vật nuôi có dấu hiệu này, chúng ta không nên chủ quan, cần chẩn đoán sớm các vấn đề bệnh lý tiềm ẩn để điều trị kịp thời.

+ Cảnh giác chó Poodle ăn phải xương – nguy hiểm khôn lường

+ Thực hư chó Poodle có chịu được nóng không?

1. Chó poodle bị ho khạc là dấu hiệu của bệnh gì?

Ho khạc là biểu hiện rất thường gặp ở nhiều vấn đề sức khỏe và bệnh lý xảy ra ở vật nuôi, bao gồm cả Poodle. Không ngẫu nhiên mà vật nuôi có biểu hiện này, bởi thực tế là không có chú Poodle là được cho là có thói quen ho khạc thông thường.

Việc chó Poodle bị ho khạc có thể là dấu hiệu của một trong các vấn đề sau đây:

1.1 Do Poodle bị mắc dị vật:

Nếu bỗng nhiên Poodle có dấu hiệu ho khạc đột ngột và dữ dội thì nhiều khả năng đó là biểu hiện của tình trạng vật nuôi bị mắc dị vật. Dị vật được nhắc đến ở đây có thể xương, vật cứng, có cạnh sắc. Những vật này sẽ gây đau và vướng víu cho phần cổ họng nên Poodle sẽ ho khạc khá dữ dội để cố gắng đẩy dị vật ra.

Việc làm này đôi khi có thể khiến cho vật nuôi vừa ho khạc, vừa nôn ói dưới ảnh hưởng của thao tác ho khạc.

Tình trạng ho khạc do mắc dị vật thường xảy ra sau khi vật nuôi ăn hoặc khi đang đùa nghịch các vật dụng cứng.

Bạn có thể theo dõi và xác thực xem có đúng vật nuôi bị vướng dị vật hay không bằng cách cho vật nuôi ăn món mà thường ngày chúng yêu thích. Nếu chúng bỏ ăn hoặc có cố gắng ăn nhưng nuốt rất khó khăn, thậm chí không thể nuốt được thức ăn. Khi đó, nhiều khả năng là Poodle đã bị mắc dị vật. Muốn xác định một cách chính xác hơn thì vật nuôi cần được thăm khám kỹ mới có thể khẳng định.

1.2 Do Poodle bị cảm lạnh:

Ho khạc cũng là một trong những triệu chứng của bệnh cảm lạnh do thời tiết. Đi kèm với triệu chứng này là một số biểu hiện khác như chảy nước mũi, run rẩy, uể oải, đờ đẫn, mệt mỏi, lười vận động, ăn uống kém, tiêu chảy, buồn nôn. Tùy từng trường hợp mà các triệu chứng nhiều hay ít.

Khi Poodle bị cảm lạnh chuyển sang giai đoạn khó chữa hơn là lúc chúng có biểu hiện ho khạc, ho khan.

Bạn có thể quan sát việc ăn uống của vật nuôi để có thêm căn cứ về bệnh. Nếu chúng vẫn ăn uống và nuốt được không khó khăn nhưng lượng ăn giảm đi thì khả năng có thể là do bị cảm lạnh.

1.3 Do Poodle bị viêm đường ruột:

Bệnh viêm đường ruột cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho vật nuôi bị ho khạc. Đây chỉ là một trong những triệu chứng của bệnh, ngoài ra vật nuôi sẽ có nhiều triệu chứng khác nghiêm trọng hơn như tiêu chảy, nôn ói, mệt mỏi, bỏ ăn, đi ngoài ra máu hoặc có lẫn máu trong phân,…

Để chẩn đoán được chính xác bệnh lý này bạn cần đưa vật nuôi đi thăm khám tại cơ sở y tế phù hợp.

1.4 Do Poodle bị ngộ độc thực phẩm:

Khi chẳng may ăn phải thức ăn ôi thiu, biến chất, quá hạn hoặc tệ hơn là thực phẩm có chứa hóa chất độc hại sẽ gặp phải tình trạng đau bụng, buồn nôn dữ dội. Đi kèm triệu chứng nôn chính là việc ho khạc do có vướng nhiều dịch nhầy trong cổ họng sau mỗi lần nôn.

Tất cả các triệu chứng này đều diễn ra khá dữ dội và cục bộ nên bạn có thể phát hiện ra ngay nếu nhận thấy chó Poodle bị ho khạc.

Để giải quyết được việc ho khạc của Poodle bạn cần khắc phục được triệt để tình trạng ngộ độc thực phẩm, cắt cơn nôn thì tự nhiên tình trạng ho khạc sẽ dứt hẳn.

1.5 Do Poodle bị chứng ho cũi:

Bệnh ho cũi là bệnh rất dễ lây nhiễm ở giống chó. Riêng với chó Poodle, chúng dễ bị lây nhiễm bệnh này khi dưới 6 tháng tuổi và ở những chú Poodle ngoại nhập hoặc có sức đề kháng yếu.

Nguyên nhân gây ra bệnh này chủ yếu là do virus Canine parainfluenza đơn độc, hoặc là do virus Canine parainfluenza kết hợp một số vi khuẩn khác ở đường hô hấp như bordetella bronchiseptica, mycoplasma.

Khi mắc bệnh này, Poodle bị viêm đường hô hấp trên nên sẽ có triệu chứng ho khạc kéo dài trong khoảng 7 – 12 ngày. Bạn có thể quan sát, nếu vật nuôi vẫn ăn uống bình thường, nhanh nhẹn nhưng thường xuyên ho khạc, kèm theo chảy dịch xanh, hắt hơi, mắt có ghèn, mũi khô,… thì đó chính là các triệu chứng cho thấy vật nuôi đã mắc bệnh ho cũi.

2. Khi chó Poodle bị ho khạc nên xử lý thế nào?

Việc xử lý khi chó Poodle bị ho khạc nên tiến hành dựa trên tình trạng chủ yếu của vật nuôi. Mức độ nặng hay nhẹ, nguyên nhân gây ho khạc là gì, triệu chứng ra sao, bệnh lý vật nuôi mắc phải cụ thể là gì,… Chúng ta cần dựa trên tất cả những vấn đề này để xác định hướng xử lý.

Tuy nhiên, dù xử lý theo hướng nào bạn cũng cần lưu ý không tùy tiện chẩn bệnh cho vật nuôi khi chúng ta không có chuyên môn và kinh nghiệm. Bởi tất cả những nguyên nhân và bệnh lý gây ra ho khạc ở Poodle đều không đơn thuần và chúng ta nếu không có chuyên môn sẽ không thể giúp ích gì được cho vật nuôi.

Nếu bạn cố gắng tự chữa trị cho vật nuôi mà thực hiện không đúng cách và thiếu khoa học có thể gây nguy hiểm cho Poodle.

Do đó, ngay khi nhận thấy triệu chứng chó Poodle bị ho khạc có thể bắt nguồn từ một nguyên nhân không đơn giản thì nên nhanh chóng đưa vật nuôi đi thăm khám. Trong thời gian chờ đợi bạn chỉ cần theo dõi, cách ly chúng và không có thêm bất cứ tác động nào tới vật nuôi.

+ Chó poodle có bị dại không

+ Chó poodle 1 năm đẻ mấy lứa

+ Chó poodle giá 4 triệu và những thông tin hữu ích dành cho bạn

Chẩn Đoán Bệnh Care Ở Chó 3 Cách Chẩn Đoán Bệnh Tại Pethealth

Chẩn đoán bệnh care ở chó thật sự không hề khó như bạn nghĩ. Có thể chỉ cần 1 vài triệu chứng lâm sàng, bạn đã có thể biết chó có bị nhiễm bệnh hay không.

Tuy nhiên, triệu chứng của bệnh Care khá giống với 1 số bệnh khác và dễ gây nhầm lẫn. Bài viết này của đội ngũ chuyên gia PetHealth sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề trên.

3 cách chẩn đoán bệnh care ở chó

Chẩn đoán theo triệu chứng lâm sàng

Giống như bệnh ghẻ ở chó, bệnh Care có các biểu hiện rất đặc trưng như tiêu chảy, phân có màu cafe hoặc có máu tươi, sốt có quy luật, hung dữ hơn mọi ngày… Đặc biệt là trên người xuất hiện các nốt sài. Bạn có thể dựa vào các đặc điểm này để chẩn đoán bệnh.

Chẩn đoán bệnh care ở chó phân biệt

Bệnh cảm mạo: Đây là 1 loại bệnh thường gặp khi thời tiết thay đổi. Chó bị sốt, sổ mũi, mi và viền mắt hơi đỏ, ho khạc. Các biểu hiện thường rất giống với triệu chứng bệnh Care ở giai đoạn đầu.

Bệnh tiêu chảy: Do nhiễm khuẩn hay ăn thức ăn không vệ sinh. Chó có các biểu hiện như: có thể sốt (do nhiễm khuẩn) hoặc không sốt, tiêu chảy nhưng không có máu kèm theo. Chỉ cần điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu cùng bổ xung nước và các chất điện giải. Sau từ 7-10 ngày bệnh sẽ giảm rồi dần khỏi hẳn.

Bệnh viêm phổi: Bệnh thường xuất hiện khi thay đổi thời tiết. Tất cả các giống chó đều có thể mắc bệnh này. Đặc điểm của bệnh là: chó sốt cao, khó thở hoặc thở khò khè. Bệnh được điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu bệnh ở đường hô hấp. Sau 5-7 ngày bệnh giảm và khỏi, chó sẽ trở lại bình thường.

Các bệnh truyền nhiễm khác

Bệnh Parvo: Đây cũng là 1 bệnh rất nguy hiểm đối với chó con và có biểu hiện giống với bệnh Care. Nếu không quan sát kỹ, bạn sẽ bị nhầm lẫn. 2 bệnh này chó đều bị tiêu chảy, và phân có mùi tanh khắm khó chịu. Nhưng đặc điểm của bệnh Parvo là khi chó đi ngoài, phân loãng như nước. Mỗi lần đi ngoài đều với số lượng phân nhiều. Còn với bệnh Care thì phân trung bình, thường nát và có màu cafe.

Bệnh viêm gan ở chó: Cũng là 1 bệnh nguy hiểm của chó. Cũng có biểu hiện tiêu chảy và phân có mùi. Tuy nhiên, đối với bệnh viêm gan phân thành khuôn nhưng là phân sống. Bụng chướng to do gan sưng, báng nước. Niêm mạc mắt viêm nặng hơn Care, trong giống như cùi nhãn.

Bệnh dại ở chó và triệu chứng thần kinh của bệnh Care: Đối với bệnh dại thì bệnh có biểu hiện rõ ở từng giai đoạn. Còn đối với bệnh Care thì biểu hiện thần kinh chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối. Còn trong giai đoạn đầu thì biểu hiện không rõ ràng. Chính vì vậy nên chó khi khỏi bệnh thường có biểu hiện đần độn.

Chẩn đoán bệnh care ở chó dựa vào đặc điểm dịch tễ học

Virus Care ở chó thường xảy ra và có thể lây lay lan mạnh thành dịch khi thời tiết ẩm, mưa nhiều. Điển hình như mùa xuân của miền Bắc. Virus có dễ dàng sinh sôi khiến dịch bùng phát.

Bệnh thường xảy ra ở chó non có độ tuổi 3-4 tháng.

Các giống chó cảnh, chó nhập ngoại thường có tỷ lệ bị bệnh cao hơn các giống chó nội địa.

Chẩn đoán bằng các xét nghiệm, x-quang, CT

PetHealth vừa đưa ra 3 cách chẩn đoán bệnh care ở chó mà bạn có thể làm tại nhà. Tuy nhiên, nếu chưa chắc chắn về kết quả, bạn có thể đưa chó đến các cơ sở thú y để chẩn đoán bằng các phương pháp cho độ chính xác cao hơn.

Chẩn đoán bằng xét nghiệm sinh hóa và phân tích nước tiểu. Qua đó có thể tiết lộ số lượng bạch cầu lympho giảm.

Kiểm tra huyết thanh có thể xác định kháng thể dương tính.

Chụp X-quang để xác định xem chó bị nhiễm bệnh có mắc bệnh viêm phổi hay không.

Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI) để kiểm tra não xem có bất ký tổn thương nào hay không.

Phải làm gì khi bị nhiễm virus Care ở chó

1 lời khuyên mà chúng tôi muốn dành cho những người nuôi chó rằng: Hãy đưa chó đến ngay các cơ sở thú y khi thấy bất cứ biểu hiện nào của bệnh Care.

Tuyệt đối không tự chữa trị tại nhà. Nếu bạn không muốn thấy những hậu quả xấu từ việc này. Tuy vậy, bạn cần lưu ý chọn nhưng cơ sở uy tín và có kinh nghiệm trong việc chẩn đoán bệnh care ở chó và cách điều trị bệnh Care.

Xin chân thành cảm ơn!

Để được hỗ trợ trực tiếp miễn phí 100% từ PetHealth, Quý khách hàng xin vui lòng liên hệ: Phòng chăm sóc khách hàng

Bệnh Sán Chó: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Sán chó có tên khoa học là Toxocara canis, hình tròn, dài giống như giun đũa ở người. Ấu trùng sán chó khi vào cơ thể người có thể chui qua thành ruột non theo đường máu đến các cơ quan nội tạng khác như gan, phổi, mắt và gây tổn thương ở các cơ quan này làm ảnh hưởng nặng đến sức khỏe, thậm chí có thể gây tử vong.

Sán chó là gì?

Sán chó có tên khoa học là Toxocara canis, hình tròn, dài giống như giun đũa ở người. Ấu trùng sán chó khi vào cơ thể người có thể chui qua thành ruột non theo đường máu đến các cơ quan nội tạng khác như gan, phổi, mắt và gây tổn thương ở các cơ quan này làm ảnh hưởng nặng đến sức khỏe, thậm chí có thể gây tử vong.

Bệnh Sán chó lây sang người như thế nào?

Tác nhân gây bệnh là Toxocara canis hay Toxocara cati, một loài giun tròn thường được gọi là giun đũa của chó, mèo.

Giun đũa chó/mèo (sán chó) sẽ đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường và sau 1 – 2 tuần các trứng này sẽ hoá phôi.

Đây là giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng. Trẻ em là đối tượng dễ nhiễm bệnh nhất do thói quen đùa nghịch với đất cát, mà đất cát lại là nơi phát tán trứng giun do đặc tính phóng uế bừa bãi của chó, mèo.

Sau khi nuốt trứng vào cơ thể, các ấu trùng giun sẽ được phóng thích, đi xuyên qua thành ruột và theo đường máu di chuyển đến gan, phổi, hệ thần kinh trung ương. Tại đây, các ấu trùng có thể sống sót trong cơ thể người trong nhiều tháng và sau đó bị phản ứng viêm của cơ thể tiêu diệt các ấu trùng di chuyển hoặc khiến chúng ngưng phát triển, nhưng chỉ sau khi các ấu trùng này đã gây tổn thương tại các mô.

Tiếp xúc với chó mèo có thể bị bệnh sán chó không?

Do đặc điểm chó, mèo là những động vật rất gần gũi với người, nên bệnh phân bố khắp thế giới và nhiều tác giả cho rằng đây là bệnh động vật ký sinh phổ biến nhất ở vùng ôn đới.

Một số khảo sát trên thế giới cho thấy, huyết thanh người tại một số nước phương Tây:

Có tỷ lệ dương tính với Toxocara spp: từ 2 – 5% ở vùng thành thị đến 14,2 – 37% ở vùng nông thôn. Ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ huyết thanh dương tính là 63,2% ở Bali, 86% ở đảo Saint-Lucia, 92,8% ở đảo La Réunion.

Huyết thanh Toxocara dương tính tại Sri Lanka là 43% ở vùng nông thôn (Iddawela et al., 2003) và 20% ở vùng thành thị.

Năm 1989, trong 6100 mẫu máu tại Trung tâm Truyền máu La Chaud-de-Fonds (Thụy Sĩ) có 601 (9,9%) trường hợp dương tính với Toxocara spp, và trong 501 mẫu máu trẻ em tại hai bệnh viện La Chaud-de-Fonds và Delémont (Thụy Sĩ) có 18 (3,6%) trường hợp dương tính.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã ghi nhận có 68 bệnh nhân mắc mới bệnh giun đũa chó, mèo thể di chuyển ở mắt trong khoảng thời gian tháng 9/2009 đến tháng 9/2010 tại Hoa Kỳ.

Trước đó, một điều tra cắt ngang tại Hoa Kỳ trong các năm từ 1988 đến 1994 với trên 20000 người lớn hơn 6 tuổi cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 13,9%.

Tình hình bệnh sán chó tại Việt Nam

Bệnh giun đũa chó, mèo tại Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, một phần vì các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, một phần vì việc xét nghiệm phân không áp dụng được trong bệnh này vì giun không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và đẻ trứng trong ruột của người.

Những năm gần đây đã có nhiều điều tra về huyết thanh học, chủ yếu với kỹ thuật ELISA nhưng chỉ giới hạn ở một số địa điểm cụ thể và số mẫu chưa nhiều nên các số liệu khó nói lên tình hình nhiễm chung trong cả nước.Tuy chưa có số liệu chính xác về tình hình bệnh, nhưng cơ hội lây nhiễm trứng giun đũa chó, mèo vào người tại Việt Nam là rất cao, dẫn đến tình hình bệnh không phải là thấp do việc nuôi chó, mèo trong nhà là phổ biến (để giữ nhà, làm thú cảnh, nguồn thực phẩm…).

Triệu chứng của bệnh sán chó 

Ở ký chủ vĩnh viễn (chó hay mèo nhà), giun trưởng thành sống trong lòng ruột non. Người mắc bệnh khi nuốt phải trứng giun đũa chó, mèo đã hoá phôi.

Nhưng các ấu trùng từ trứng nở ra sẽ không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và sẽ chu du trong cơ thể người trong vài tháng đến nhiều năm.

Các ấu trùng này sẽ gây tổn thương tại những nơi mà chúng đến, làm nên bệnh giun đũa chó, mèo ở người.

Mức độ tổn thương của cơ thể cùng với các triệu chứng tùy thuộc vào số lượng ấu trùng cũng như cơ quan mà chúng xâm lấn: gan, phổi, hệ thần kinh trung ương, mắt… Các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo được mô tả như sau:

Thể ấu trùng di chuyển nội tạng (visceral larva migrans – VLM), chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi với các triệu chứng: sốt, gan to và bị hoại tử, lách to, triệu chứng hô hấp giống như hen suyễn, bạch cầu ái toan tăng (tỷ lệ có thể đến 70%), các globulin miễn dịch IgM, IgG và IgE trong máu tăng. Ngoài ra có thể gặp viêm cơ tim, viêm thận, hệ thần kinh trung ương bị thương tổn với các triệu chứng co giật, triệu chứng tâm thần kinh hay bệnh lý ở não do sán chó ký sinh. Trên thế giới cũng đã ghi nhận nhiều trường hợp tử vong do toxocara di chuyển đến não.

Thể ấu trùng di chuyển ở mắt (ocular larva migrans – OLM), gặp ở trẻ từ 5 - 10 tuổi với triệu chứng giảm thị lực một bên mắt với đôi khi bị lé mắt. Mức độ suy giảm thị lực tuỳ thuộc vào vùng bị thương tổn (võng mạc, điểm vàng), có thể dẫn đến mù loà.

Ngoài hai thể lâm sàng chính nói trên, hiện nay nhiều tác giả còn mô tả những thể khác, hoặc tách ra từ thể VLM hoặc là những thể riêng biệt với những triệu chứng mơ hồ hơn như:

Thể “che đậy” (covert toxocariasis), được mô tả ở trẻ em với các đặc điểm: hiệu giá kháng thể Toxocara qua kỹ thuật ELISA vừa phải (≥ 1/50), số lượng bạch cầu ái toan bình thường hay tăng nhẹ, đau bụng, nhức đầu, ho.

Thể “thông thường” (common toxocariasis), được các tác giả người Pháp mô tả ở người lớn với các triệu chứng: mệt mỏi, ngứa, nổi ban, thở khó và đau bụng. Có lẽ thể “che đậy” và thể “thông thường” chỉ là một, chỉ khác nhau ở đối tượng bị bệnh là trẻ em hay người lớn.

Thể “thần kinh” (neurotoxocarosis), gây bệnh ở hệ thần kinh trung ương (sa sút trí tuệ, viêm não-màng não, viêm tuỷ, viêm mạch máu não, động kinh hay viêm dây thần kinh thị giác) hoặc ở thần kinh ngoại biên (viêm rễ thần kinh, gây tổn thương các dây thần kinh sọ hay thần kinh cơ-xương).

Chẩn đoán bệnh sán chó

Chẩn đoán bệnh giun đũa chó, mèo không dễ dàng vì:

Triệu chứng trong các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo không đặc hiệu cho bệnh.

Ấu trùng có thể phân tán rộng trong cơ thể và không phải lúc nào làm sinh thiết cũng phát hiện được ấu trùng.

Huyết thanh chẩn đoán ELISA sử dụng kháng nguyên ngoại tiết TES (Toxocara excretory-secretory antigen) có thể dương tính chéo với các trường hợp nhiễm giun, sán khác (giun đũa, giun móc, giun lươn, giun chỉ hệ bạch huyết, sán lá gan lớn, sán dây). Do đó để khẳng định thì phải làm Western-Blot là một kỹ thuật có tính đặc hiệu cao hơn.

Ngoài ra nhiều nơi sản xuất ELISA với những hiệu giá kháng thể hay mật độ quang (OD) khác nhau về ngưỡng dương tính, nên khó so sánh hay theo dõi diễn tiến bệnh.

Sự hiện diện của kháng thể chống Toxocara cũng không nói lên tình trạng đang mắc hay đã mắc bệnh vì các kháng thể chống Toxocara có thể tồn tại đến hơn 2,8 năm với kỹ thuật ELISA và đến hơn 5 năm với kỹ thuật Western-Blot.

Số lượng bạch cầu ái toan có thể bình thường hoặc có tăng nhưng với mức độ rất thay đổi.

Nồng độ IgG và IgM tăng

Gan to.

Nếu hội đủ 3 tiêu chuẩn trên trở lên thì là mắc bệnh sán chó.

Điều trị bệnh sán chó

Nhìn chung điều trị bệnh cần có bác sĩ chuyên khoa ký sinh trùng và dựa vào từng xét nghiệm và triệu chứng lâm sàng kèm theo; ngứa da, nổi mề đay, ấu trùng di chuyển nội tạng mà có những toa điều trị khác nhau.Một số thuốc điều trị liều duy nhất (ngắn ngày) thường ít có tác dụng, đa số bệnh nhân được xét nghiệm và điều trị tại Phòng khám Quốc tế Ánh Nga Chuyên khoa ký sinh trùng đều có thời gian điều trị từ 7, 14, 21 ngày với các thuốc đặc trị. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bệnh nhân điều trị ngắn ngày từ một số cơ sở y tế khác đến khám và được thay đổi sang phác đồ dài ngày, kết quả bệnh nhân hết ngứa, các xét nghiệm sau điều trị đều cho kết quả khả quan.

Phòng bệnh sán chó 

Hàng tuần dọn dẹp sạch sẽ nơi chó, mèo nằm.

Phân chó, mèo phải được chôn lấp hay bỏ vào túi và vứt bỏ vào thùng rác.

Không cho trẻ chơi đùa nơi có chó, mèo thải phân.

Rửa tay với xà phòng sau khi chơi đùa với chó, mèo, sau khi nghịch đất cát và trước khi ăn uống.

Định kỳ tẩy giun cho chó, mèo.

Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Do Virus Herpes Ở Chó

Các triệu chứng do nhiều loại virus herpes khác nhau gây ra; ở người, nó nó gay ra một loạt các bệnh, từ bệnh zona và bệnh do Epstein-Barr đến các tổn thương ở miệng hoặc cơ quan sinh dục.

Ở mèo, virus herpes là một nguyên nhân chính gây nhiễm trùng đường hô hấp trên. Và ở chó, bệnh về sinh sản sẽ dẫn đến hội chứng fading ở chó con (chó con suy yếu dần rồi chết).

Bệnh do virus herpes ở chó phổ biến như thế nào?

Bản thân virus herpes rất phổ biến ở răng nanh. Tỷ lệ hiện nhiễm trong tổng số chó ước tính khoảng 70%, nhưng điều này không có nghĩa là phần lớn chó có dấu hiệu bệnh.

Giống như hầu hết các virus herpes, sau giai đoạn đầu, virus sẽ âm ỉ trong cơ thể và nhìn bên ngoài thì chó dường như không bị ảnh hưởng.

Nhóm tuổi nào bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh do virus herpes ở chó?

Cho đến nay, nhóm tuổi bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là chó con trong giai đoạn 1-3 tuần tuổi. Trên thực tế, virus herpes ở chó là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở chó con sơ sinh.

Chó ở mọi lứa tuổi có thể bị nhiễm bệnh, tuy nhiên, các dấu hiệu ở chó trưởng thành thường không tồn tại hoặc nhẹ hơn so với những gì được thấy ở chó con.

Bệnh do virus herpes ở chó lây truyền như thế nào?

Chó sẽ bị nhiễm khi tiếp xúc với dịch tiết từ miệng, mũi hoặc âm đạo của chó bị bệnh. Không giống như các loại virus khác, chẳng hạn như parvo, tồn tại rất lâu trong môi trường, virus herpes tương đối không ổn định ở bên ngoài vật chủ, do đó cần tiếp xúc gần gũi để có thể lây truyền.

Chó con có thể bị nhiễm bệnh từ trong tử cung hoặc lúc chúng được sinh ra. Virus tái tạo ở niêm mạc khoang miệng và cổ họng và đi vào dòng máu từ đó.

Các triệu chứng của bệnh do virus herpes ở chó là gì?

Triệu chứng nặng nhất, đột tử, thường xảy ra nhất ở chó con từ một đến ba tuần tuổi. Tuy nhiên, điều này đã được phát hiện ở chó con ở sáu tháng tuổi với hệ miễn dịch chưa phát triển hoàn toàn. Trong những trường hợp này, chó con sẽ có biểu hiện ốm và tử vong trong thời gian rất nhanh, thường là trong vòng chưa đầy một ngày. Trước đó có thể có một loạt các dấu hiệu lâm sàng, chẳng hạn như mệt mỏi, không quan tâm đến việc được cho bú, viêm kết mạc, tiêu chảy hoặc tổn thương da. Các cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất là phổi, gan và thận.

Ở những con chó trưởng thành có hệ thống miễn dịch phát triển, virus herpes thường không gây ra các triệu chứng lâm sàng, mặc dù chúng vẫn có thể truyền virus và lây sang những con chó khác. Nếu các dấu hiệu xuất hiện, virus herpes có thể hiện diện như nhiễm trùng đường hô hấp trên với các triệu chứng của ho gà. Chó có thể có các triệu chứng ở mắt như viêm kết mạc hoặc viêm loét giác mạc. Chó mang thai có thể sẽ bị sảy thai tự phát. Khi nhiễm trùng cấp tính được loại bỏ, virus vẫn tiềm ẩn trong cơ thể và có thể được kích hoạt lại bằng sự căng thẳng hoặc các thuốc ức chế miễn dịch.

Cách chẩn đoán bệnh do virus herpes ở chó?

Virus herpes có thể được chẩn đoán bằng cách xét nghiệm các mẫu máu, mô, hoặc lấy các mẫu màng nhầy bằng tăm bông. Không may là, ở chó con, xét nghiệm này thường được thực hiện khi khám nghiệm tử thi do sự khởi phát nhanh chóng của bệnh. Vì nó là nguyên nhân chính gây tử vong đột ngột ở chó sơ sinh, các bác sĩ lâm sàng thường nghi ngờ virus herpes trước khi xác nhận thông qua các xét nghiệm chẩn đoán này.

Cách điều trị bệnh do virus herpes ở chó?

Không có cách chữa trị virus herpes. Việc điều trị được giới hạn ở mức chăm sóc hỗ trợ và kiểm soát các triệu chứng. Ở chó trưởng thành, các triệu chứng thường tự giới hạn, nhưng ở chó con bị ảnh hưởng tiên lượng sẽ từ cần theo dõi thêm đến tiên lương xấu ngay cả khi điều trị. Ở chó con đã phơi nhiễm nhưng vẫn chưa có dấu hiệu lâm sàng, một số bác sĩ lâm sàng có thể khuyên bạn nên giữ những chó con trong một môi trường ấm, ẩm ướt mà virus ít có khả năng sinh sôi hơn.

Làm thế nào chủ nuôi có thể ngăn ngừa lây truyền virus herpes ở chó?

Tại Hoa Kỳ, chưa có vắc-xin dành cho virus herpes ở chó Nếu một con chó cái đã tiếp xúc với virus trước khi mang thai, nó sẽ có kháng thể trong máu được truyền cho chó con trong sữa non. Những con chó này vẫn có thể bị nhiễm virus nhưng không bị bệnh. Nguy cơ bị bệnh cao nhất đối với lứa chó con là sự tiếp xúc lần đầu tiên trong ba tuần trước khi sinh cho đến suốt ba tuần sau khi sinh. Vì lý do này, chó mang thai nên được cách ly với những con chó khác trong thời gian sáu tuần đó.

Bất kỳ người nào tiếp xúc với chó mang thai nên cẩn thận với sự khử khuẩn để giữ cho chó con được an toàn. Virus này nhanh chóng bị phá hủy trong môi trường thông qua việc sử dụng các chất khử trùng, vì vậy việc duy trì một quy tắc làm sạch là một phần quan trọng trong quản lý sức khỏe.

Một khi bạn đã nhìn thấy một lứa chó con bị ảnh hưởng bởi hội chứng fading ở chó con, bạn sẽ không bao giờ quên nó. Đó là một căn bệnh khủng khiếp khiến chủ nuôi chó con và bác sĩ thú y cảm thấy bất lực. May mắn là, nhiều trường hợp có thể được ngăn ngừa bằng việc dự đoán và kiểm soát chó mang thai, vì vậy nếu may mắn bạn sẽ không bao giờ phải chứng kiến căn bệnh khủng khiếp đó.

Bạn đang xem bài viết Chẩn Đoán Bệnh Chính Xác Khi Chó Poodle Bị Ho Khạc trên website Misssportsvietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!