Xem Nhiều 2/2023 #️ Bệnh Parvo Ở Chó – Bệnh Viện Thú Y Petcare # Top 3 Trend | Misssportsvietnam.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bệnh Parvo Ở Chó – Bệnh Viện Thú Y Petcare # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Parvo Ở Chó – Bệnh Viện Thú Y Petcare mới nhất trên website Misssportsvietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

•   Mệt mỏi •   Giảm hoặc bỏ ăn •   Đau bụng và chướng bụng •   Sốt cao hoặc thân nhiệt thấp •   Nôn mửa •   Trong trường hợp nặng thường bị tiêu chảy ra phân có máu •   Nôn mửa và tiêu chảy kéo dài sẽ gây nên tình trạng mất nước, virus gây tổn thương đến ruột và hệ miễn dịch sẽ gây ra sốc do nhiễm khuẩn. Phần lớn chó chết trong vòng 48-72 giờ từ khi có triệu chứng đầu tiên. Nếu chó có các biểu hiện trên, vui lòng đem chó đến bác sĩ thú y ngay lập tức.

Chẩn đoán và điều trị

Bệnh Parvo thường được chẩn đoán và điều trị dựa trên tiền sử của vật nuôi, chẩn đoán và làm xét nghiệm. Chưa có thuốc đặc hiệu để tiêu diệt virus trên chó bị nhiễm, việc điều trị chỉ giúp hỗ trợ cho đến khi hệ miễn dịch của chó đủ khả năng chống lại bệnh. Chó cần được giữ ấm, điều trị và chăm sóc ngay lập tức để chống mất nước bằng phương pháp truyền dịch, kiểm soát tình trạng ói và tiêu chảy, và ngăn ngừa nhiễm khuẩn kế phát. Việc điều trị bệnh parvo có thể tốn kém, và chó vẫn có thể chết dù được diều trị tích cực. Việc phát hiện bệnh sớm và tích cực điều trị bằng phương pháp đúng có thể đem lại tỉ lệ sống đến 90%. Chó bệnh cần được cách li để giảm thiểu nguy cơ lây lan virus cho chó khỏe. Cần làm vệ sinh và sát trùng chuồng nuôi hoặc các khu vực sinh hoạt của chó để hạn chế lây lan virus.

Phòng ngừa bệnh parvovirus

Để phòng ngừa bệnh parvo ở chó, cần tuân thủ đúng lịch chủng ngừa và làm vệ sinh sạch sẽ nơi ở chủa chó. Chó con dễ bị mắc bệnh vì kháng thể tự nhiên trong sữa chó mẹ có thể không đủ để bảo vệ cho đến lúc hệ miễn dịch của chó con đủ mạnh để tự chống lại bệnh hoặc vắc xin chích vào đã bị trung hòa bởi kháng thể chó mẹ. Vì vậy chủ nuôi cần tuân theo lịch chủng ngừa của bác sĩ thú y để phòng bệnh cho vật nuôi một cách tốt nhất.

Cho đến khi chó con hoàn thành lịch tiêm chủng đầu tiên, chủ nuôi nên chú ý khi dắt chó đến công viên, lớp huấn luyện chó, các cửa hàng bán đồ thú cưng, các dịch vụ khách sạn cho chó và các tiệm cắt tỉa lông cho chó.

Chó chưa chủng ngừa không được tiếp xúc với chó bệnh hoặc chó chưa rõ lịch chủng ngừa. Người đã tiếp xúc với chó bệnh không nên tiếp xúc với chó khác, nếu phải tiếp xúc nên rửa tay (và sát khuẩn hoặc thay quần áo) trước khi tiếp xúc.

Mặc dù đã chích ngừa nhưng vẫn có 1 số ít chó không tạo được kháng thể bảo vệ nên vẫn dễ bị mắc bệnh.

Không bao giờ cho chó tiếp xúc ( ngửi, liếm,..) với phân của chó khác ở ngoài đường, công viên, sân chơi,… Hãy dọn phân của thú cưng để tránh lây nhiễm parvovirus cũng như các bệnh khác có thể gây ảnh hưởng tới con người và động vật.

Nếu chó có biểu hiện nôn mửa hoặc tiêu chảy hay đã từng tiếp xúc với chó bệnh, chủ nuôi không nên đem chó đến công viên, tiệm thẩm mỹ cho chó, khách sạn cho chó, công viên,… để tránh virus lây lan gây bệnh cho chó khác. Nguồn: https://www.avma.org/public/PetCare/Pages/canine-parvovirus.aspx

Bệnh Parvo Ở Chó Phốc L Bệnh Viện Thú Cảnh Dreampet

Bệnh Parvo ở chó phốc rất nguy hiểm. Bởi nó có nguy cơ lây nhiễm cao. Đối với những chú phốc nhỏ tỷ lệ tử vong lên đến 80%.

Bệnh Parvo ở chó là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Bệnh này do virus Canine Parvovirus gây ra. Bệnh dễ lây nhiễm và lây nhiễm rất nhanh. Chỉ cần tiếp xúc với chó ốm hoặc gián tiếp qua 1 vật trung gian đã tiếp xúc với chó ốm là chó sẽ bị nhiễm. Những chú chó nhỏ, những chú chó chưa được tiê phòng đầy đủ dễ bị Parvo virus tấn công hơn. Nếu can thiệp sớm phốc có khả năng được cứu sống và trở lại cuộc sống bình thường.

Biểu hiện của bệnh parvo ở chó phốc như thế nào?

Trong vòng từ 3 – 10 ngày các triệu chứng sẽ xuất hiện. Tần suất, số lượng của các triệu chứng ngày một tăng. Ban đầu sẽ là biếng ăn, bỏ ăn, mệt mỏi,…

Càng về sau các biểu hiện càng trầm trọng, rõ rệt. Cụ thể như sốt cao hoặc thân nhiệt ha. Đau bụng, chướng bụng là tình trạng tất yếu. Trong trường hợp nặng phốc sẽ bị tiêu chảy, tiêu chảy ra máu. Phân lỏng, tanh.

Nếu nôn mửa, tiêu chảy kéo dài, chó sẽ rơi vào trạng thái mất nước nghiêm trọng. Ruột và dạ dày sẽ bị tổn thương nặng nề. Sau 48 đến 72 giờ phốc sẽ tử vong.

Cách phòng tránh bệnh parvo ở chó phốc

Có nhiều cách để phòng tránh bệnh pravo ở chó phốc. Nếu kết hợp chúng cùng một lúc thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Tiêm phòng vacxin đầy đủ, đúng thời gian quy định.

Tăng sức đề kháng cho chó bằng chế độ tập luyện và chế độ ăn uống.

Không cho chó tiếp xúc với chó bệnh.

Khi ra ngoài về nhà không bế ẵm, vuốt ve chó ngay mà phải thay đồ, vệ sinh tay chân trước.

Không cho chó chơi ở những nơi ẩm thấp, tùy tiện ăn thức ăn sống, tái, lạ.

Chó phốc hay bất kỳ chó nào đều có nguy cơ cao bị bệnh parvo. Một khi nhiễm bệnh không được chủ quan, tự chữa trị ở nhà. Để cứu phốc khỏi tay tử thần chỉ có cách duy nhất là đưa ngay em ấy đến phòng khám thú y gần nhất.

BỆNH VIỆN THÚ Y DREAMPET

Bệnh viện thú ý Số 1 Việt Nam về Uy tín, chuất lượng, cùng đội ngũ bác sỹ thú y giỏi, yêu nghề !

Địa chỉ : Số 44 – Lô B1 – Nguyễn Cảnh Dị – KĐT Đại Kim – Hoàng Mai – Hà Nội

0901.203.999 Đặt lịch khám

Bệnh Viện Thú Y Linh Đàm

Linh Đàm có thể nói là một trong những khu đô thị mới bậc nhất nước ta. Ở đây, đời sống người dân cũng khá cao. Trong đó, việc nuôi thú cưng được coi như một niềm vui của những gia đình. Những bệnh viện thú y Linh Đàm cũng được hình thành để đáp ứng nhu cầu này của mọi người. Bệnh viện thú y và phòng khám thú y được đầu tư hơn bất kỳ nơi nào với những dịch vụ vượt bậc, nâng tầm.

Vật nuôi ở khu Linh Đàm

Thực trạng

Như đã nói, Linh Đàm được mọi người biết đến là một khu đô thị mới với mức đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ. Những gia đình ở đây chọn nuôi thú cưng với nhiều lợi ích của nó mang lại như canh giữ nhà cửa, làm cảnh, và thậm chí là người để họ bầu bạn tâm sự, …

Những người dân ở khu Linh Đàm thường có đời sống khá cao. Do đó, việc lựa chọn vật nuôi của họ cũng rất kỹ lưỡng. Những vật nuôi hầu hết là những giống chó, mèo đắt đỏ được nhập từ nước ngoài về. Thậm chí là những vật nuôi thuộc dạng “hiếm có khó tìm” trong và ngoài nước.

Theo như các bệnh viện thú y Linh Đàm chia sẻ rằng vì mật độ những giống vật nuôi nhập về trong khu Linh Đàm khá nhiều, việc những bé cưng mắc bệnh cũng rất dễ bắt gặp và thường xuyên xảy ra. Nếu không có những kiến thức để phát hiện và chữa trị bệnh cho vật nuôi thì sẽ ảnh hưởng đến những vật nuôi khác trong khu vực và thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

Cơ sở thú y Linh Đàm

Những phòng khám thú y và bệnh viện thú y ở khu vực Linh Đàm cũng rất thận trọng trong việc phòng và điều trị bệnh cho thú nuôi. Các bệnh viện thú y Linh Đàm thường có những khuyến cáo cho người dân về các loại bệnh dễ gặp phải trên vật nuôi. Tuy chỉ là một khu đô thị nhưng rất được đầu tư về cơ sở vật chất thú y.

Những bệnh viện thú y Linh Đàm hầu hết đều cung cấp các dịch vụ khám, chữa bệnh và làm đẹp cho thú cưng. Ngoài ra, trang thiết bị kỹ thuật và đội ngũ các bác sĩ thú y khu vực Linh Đàm cũng phải thuộc loại ưu tú để đám ứng và chữa trị các loại bệnh lạ trên thú cưng.

Tính chất lượng

Chất lượng ở đây ngoài đến từ cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại. Nó còn đến từ đội ngũ y bác sĩ giỏi giang, lành nghề. Chất lượng các bác sĩ ở các cơ sở Linh Đàm được coi như là đội ngũ tinh nhuệ nhất với nhiều năm nghiên cứu và chữa trị cho hàng chục ca bệnh trên thú cưng

Tính thuận tiện

Các phòng khám thú y và bệnh viện thú y ở đây đều có dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7 tận tâm. Các cơ sở đều tiếp nhận các khách hàng mọi lúc mọi nơi. Do đó, khi có yêu cầu được thăm khám sức khỏe vật nuôi tại nhà bạn cũng có thể yêu cầu và đội ngũ y bác sĩ sẽ đến tận nơi và bạn không phải di chuyển nhiều.

Bên cạnh đó, trước khi được thăm khám hãy gọi hoặc nhắn tin và bán ẽ luôn nhận được tư vấn và lời khuyên tối ưu nhất từ các tư vấn viện của các cơ sở thú y Linh Đàm.

Dịch vụ DREAMPET HOSPITAL

DreamPet Hospital đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách hàng với chức năng của một bệnh viện thú y Linh Đàm hiện đại nhất. Nơi đây chính là trụ sở chính của DreamPet, vì vậy hàng loạt các máy móc được đầu tư nhập mới từ nước ngoài về. Đảm bảo rằng máy móc luôn là loại tiến tiến bậc nhất cả nước

Bệnh viện thú y và phòng khám thú y DreamPet tiếp nhận và điều trị tất cả các bệnh từ nội trú đến ngoại trú. Với DreamPet chưa bao giờ bỏ qua bất cứ ca bệnh nào của các bé cưng. Bạn hãy an tâm về điều này.

Các loại thuốc trong việc phòng và chữa trị bệnh đều có nguồn gốc rõ ràng, hạn sử dụng được niêm yết. Đặc biệt, mỗi ca bệnh sẽ được kê toa hợp lý, khoa học đảm bảo các thú cưng sẽ lành bệnh nhanh chóng mà không phải tiền mất tật mang.

Dịch vụ làm đẹp – thư giãn

Một điều thú vị ở DreamPet chính là đay là bệnh viện thú y Linh Đàm không chỉ chú trong khám bệnh mà các dịch vụ về làm đẹp cho thú cưng cũng được phát triển song song. Các bé sẽ được tắm rửa, mát xa, trị liệu và chăm sóc lông móng theo sở thích và yêu cầu của chủ nhân thú cưng.

Bên cạnh đó, DreamPet còn có dịch vụ khách sạn cho thú cưng để các bé có thể ở đây relax và chơi cùng các bạn thú cưng khác. Đảm bảo môi trường khách sạn thú cưng luôn được vô trùng, thoáng đãng, sạch sẽ vô cùng.

Dịch vụ khác

Ngoài hai hướng phát triển chính này, bệnh viện thú y Linh Đàm DreamPet còn phát triển thêm hai dịch vụ khác: DreamPet shop và mai táng chó mèo

DreamPet shop chính là nơi cung cấp tất cả sản phẩm phục vụ ăn uống, làm đẹp và vui chơi của các bé thú cưng. Các bạn có thể chọn những sản phẩm chất lượng từ thức ăn, đồ uống, sữa tắm, … cho chó mèo của bạn. Đảm bảo các sản phẩm đều được kiểm tra chất lượng trước khi công khai bày bán trên DreamPet Shop.

Dịch vụ mai táng chó mèo chính là một dịch vụ nhân văn khác của bệnh viện thú y Linh Đàm DreamPet. Ở đây, DreamPet hỗ trợ nếu khách hàng mong muốn các vật nuôi sau khi an nghỉ được chôn cất hay hỏa táng. Đội ngũ dày dặn kinh nghiệm sẽ hỗ trợ bạn trong những quy trình này để những vật nuôi của bạn có thể nhẹ nhàng nhắm mắt. Và bạn cũng xem đó như món quà cuối cùng dành cho các bé cưng của bạn.

Hãy đến và trải nghiệm những dịch vụ tại DreamPet của chúng tôi. Nơi làm bạn và thú cưng của bạn cảm thấy hài lòng như chính trong căn nhà của bạn. Chúng tôi tự tin đem đến những dịch vụ và sản phẩm uy tín, chất lượng, tận tâm hàng đầu khu vực Linh Đàm.

Bệnh Giun Đũa Ở Chó – Bệnh Viện Thú Y – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

5.7.1. Lịch sử phát hiện bệnh

Giun đũa Toxocara canis được tìm thấy ở chó từ thế kỷ 18, nhưng phải đến năm 1908 khi Nutall và Strickland C. tìm thấy 17 trong số 24 chó ở Cambridge (Anh) bị nhiễm loại ký sinh trùng này thì giun đũa T. canis mới bắt đầu được nghiên cứu nhiều.

Trường hợp người bị nhiễm T. canis được mô tả đầu tiên bởi Wilder H.C. vào năm 1950. Đến năm 1958, Sprent J.F.A. đã nghiên cứu vòng đời và cơ chế truyền bệnh của giun đũa T. canis.

Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng 8, Houdemer (1938) đã tìm thấy giun đũa ở chó Bắc Bộ. Năm 1975, Capdevielle P. và cs. đã báo cáo về một trường hợp cổ chướng có tăng bạch cầu ái toan ở một phụ nữ lớn tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh nhân sống ở nông thôn, có tiền sử vàng da, uống rượu và nghiện hút thuốc lá nặng. Các tác giả nghĩ đến nguyên nhân ký sinh trùng nhưng không biết loài nào, điều trị với Thiabendazole thì triệu chứng bệnh giảm dần.

Cho đến nay, bệnh do giun đũa T. canis gây ra ở chó được quan tâm nghiên cứu nhiều vì tỷ lệ chó nhiễm bệnh ngày càng cao, ở giai đoạn ấu trùng có khả năng nhiễm và gây bệnh cho người.

5.7.2. Tác nhân gây bệnh

Bệnh do hai loài giun tròn là Toxocara canis, thuộc họ Anisakidae và Toxascaris leonina, thuộc họ Ascaridae gây nên. Giun ký sinh ở ruột non, dạ dày của chó, cáo, chó sói và nhiều loài ăn thịt khác.

Hình thái, cấu tạo

– Loài T. canis: giun màu vàng nhạt, đầu hơi cong về phía bụng; có cánh đầu rộng, giữa thực quản và ruột có dạ dày nhỏ (đây là đặc điểm của họ Anisakidae). Giun đực dài 5 – 10 cm, đuôi cong hơi tù, có cánh đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau (chiều dài 0,75 – 0,85 mm). Giun cái dài 9 – 18 cm, đuôi thẳng.

Trứng giun hơi tròn, vỏ trứng lỗ chỗ như tổ ong, vỏ dày, màu vàng, kích thước 0,08 – 0,085 x 0,064 – 0,072 mm.

– Loài T. leonina: giun có cơ thể màu vàng nhạt, cánh đầu rất hẹp, hơi cong về phía lưng. Giun đực dài 4 – 6 cm, đuôi nhọn không tù như T. canis, không có cánh đuôi, có một đôi gai giao hợp dài bằng nhau (dài 1,2 – 1,5 mm). Giun cái dài 6,5 – 10 cm. Trứng giun hơi tròn, vỏ ngoài nhẵn, đường kính 0,075 – 0,085 mm.

Vòng đời

– Đối với loài Toxocara canis: giun cái sau khi thụ tinh đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, sau 5 ngày thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh. Khi chó nuốt phải trứng này, tới ruột non ấu trùng nở ra, theo máu về gan, khí quản, vào miệng rồi trở lại ruột non phát triển thành giun trưởng thành. Một số ấu trùng sau khi vào phổi không vào phế quản mà vẫn theo đại tuần hoàn về các tổ chức làm thành kén, ấu trùng ở trong kén không chết và cũng không phát triển. Nếu chó ăn phải kén có ấu trùng thì vào ruột, ấu trùng tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành. Ấu trùng có thể truyền từ mẹ vào thai (bằng chứng là có những trường hợp chó sơ sinh đã có giun đũa trưởng thành ký sinh).

– Đối với loài Toxascaris leonina: trứng giun theo phân chó ra ngoài, gặp nhiệt độ và ẩm độ thích hợp, sau 3 ngày phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Chó nuốt phải trứng, trứng nở thành ấu trùng, sau 3 – 4 tuần phát triển thành giun trưởng thành.

3. Dịch tễ học

Loài mắc bệnh

      Bệnh thấy ở chó, cáo, chó sói và nhiều động vật ăn thịt khác. Chó ở mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm giun đũa, song loài T. canis ký sinh nhiều hơn ở chó con, còn T. leonina ký sinh nhiều hơn ở chó 6 tháng tuổi trở lên. Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chó giảm dần theo tuổi (chó sơ sinh đến 4 tháng tuổi nhiễm 53%, 6 tháng – 1 năm tuổi nhiễm 25%, trưởng thành nhiễm 12%).

Chó ngoại và chó cái nhiễm giun đũa cao (chó đực nhiễm 17%, chó cái nhiễm 28%; chó ngoại nhiễm 40,6%, chó nội nhiễm 28,1%).

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn ở chó nuôi tại Hà Nội, Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) cho biết, chó nhiễm giun đũa T. canis là 20%, T. leonina là 24,26%, tỷ lệ nhiễm giảm theo tuổi chó (chó dưới 3 tháng tuổi nhiễm T. canis 40,86%, 3 – 8 tháng tuổi nhiễm 25,89%, 8 – 12 tháng tuổi nhiễm 12,39%; đối với loài T. leonina: chó dưới 3 tháng tuổi không thấy nhiễm, chó 3 – 8 tháng tuổi nhiễm 33,9%, 8 – 12 tháng nhiễm 42,1%, trên 12 tháng nhiễm 19,2%).

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó tại xã Sơn Nga, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ của Dương Đức Hiếu và cs (2014) cho biết, chó nhiễm Toxocara spp. là 66,67%

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2015) cho biết, chó ở Phú Thọ nhiễm T. canis qua mổ khám là 28,57%; cường độ nhiễm 1 – 6 giun/chó.

Chất chứa mầm bệnh

            Trứng giun đũa có trong phân của chó và những động vật mắc bệnh khác. Từ phân, trứng có thể phát tán và được lưu trữ trong đất, nước và lẫn vào thức ăn, nước uống của chó, người…

Phương thức truyền lây

Chó có thể nhiễm giun đũa T. canis qua 3 đường: qua thức ăn, nước uống; ăn thịt chó còn sống có kén mang ấu trùng; qua bào thai. Người nhiễm chủ yếu do nuốt phải trứng giun đũa chó qua thức ăn, nước uống, hoặc qua tiếp xúc với chó (bồng bế chó)

Trứng giun đũa có sức đề kháng mạnh, có thể phát triển được trong các dung dịch clorua thuỷ ngân, sunfat đồng nồng độ cao.

Cơ chế sinh bệnh

Ở chó

Ấu trùng di hành làm tổn thương một số cơ quan, tổ chức (gan, phổi, mạch máu…). Nếu nhiều giun trưởng thành ký sinh thì gây tắc ruột, có khi thủng ruột. Giun chui vào ống dẫn mật làm tắc ống dẫn mật, chó có thể chết.

Ấu trùng giun còn mang vi khuẩn đến các cơ quan, tổ chức gây viêm.

Ở người

Giun đũa Toxocara spp. trưởng thành ký sinh ở chó, sau khi thụ tinh đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Người có thể nhiễm ấu trùng giun đũa Toxocara spp. do ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng có sức gây bệnh hoặc do dùng tay bị ô nhiễm trứng có sức gây bệnh cầm thức ăn ăn.

Vào cơ thể người, trứng Toxocara spp. giải phóng ra ấu trùng, ấu trùng này di hành đến mắt hoặc các cơ quan khác trong cơ thể (như não, mắt, các cơ quan nội tạng) và gây tác hại cho cơ thể người.

4. Bệnh ở chó

 Triệu chứng

Con vật gầy còm, chậm lớn, thiếu máu ăn kém, nôn mửa, táo bón, sau ỉa chảy. Bụng chướng to, lông xù. Có khi có triệu chứng giống thần kinh như động kinh hay bệnh dại.

Bệnh tích

            Xác chết gầy, lông xung quanh hậu môn dính phân bẩn. Mổ khám thấy nhiều giun đũa ở ruột non, có thể thấy giun tập trung thành búi, gây tắc ruột. Ruột non viêm cata, có nhiều điểm xuất huyết.

Chẩn đoán bệnh

Đối với chó còn sống: xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng giun đũa. Phân biệt trứng của hai loài giun trên, đồng thời theo dõi triệu chứng lâm sàng của con vật.

Đối với chó đã chết: mổ khám tìm giun đũa ở ruột non và dạ dày chó.

5. Bệnh ở người

Cortés N. N. và cs. (2015) đã kiểm tra 183 mẫu huyết thanh của trẻ em 3 – 16 tuổi tại Amecameca và Chalco thuộc México. Kết quả cho thấy, có 22 mẫu dương tính với T. canis, chiếm tỷ lệ 12,02%. Trong đó có 6,50% số bé trai và 5,4% số bé gái dương tính với bệnh do giun T. canis gây ra.

Borecka A. và Kłapeć T. (2015) cho biết: Tại Ba Lan, giai đoạn từ năm 1994 – 2005, kiểm tra 18.367 mẫu huyết thanh của người nghi ngờ bị nhiễm Toxocara, kết quả cho thấy tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính biến động qua các năm nghiên cứu từ 1,8 – 76%. Trong giai đoạn từ năm 1978 – 2009, đã ghi nhận 1.022 trường hợp thể hiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh.

Antolová D. và cs. (2015) đã kiểm tra 429 mẫu huyết thanh người dân tộc Roma sống thành quần thể riêng thuộc Đông Slovakia, thấy 22,15 số mẫu dương tính với T. canis. Triệu chứng của những người bị bệnh bao gồm: nhức đầu, đau cơ bắp, tiêu chảy và có các triệu chứng giống bệnh cúm (ho, sốt bất thường khó thở…).

Triệu chứng

Người nhiễm ấu trùng giun đũa chó có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, khó xác định, phụ thuộc nhiều vào số lượng, vị trí ký sinh của ấu trùng và đáp ứng của cơ thể người bị nhiễm. Gồm có hai nhóm triệu chứng chính:

– Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng, có các triệu chứng chung như: mệt mỏi, ăn kém, thể trạng yếu, sốt bất thường và có dạng dị ứng (nổi mẩn ngứa, nổi ban, mề đay…). Tuy nhiên, các biểu hiện lâm sàng cho dù là điển hình, cũng rất dễ nhầm với các bệnh khác.

– Bệnh ấu trùng giun đũa chó ở mắt: bệnh có triệu chứng giảm thị lực, viêm mắt hoặc gây tác động có hại đến võng mạc. Thông thường thì mắt nào có ấu trùng ký sinh mới thể hiện triệu chứng của bệnh.

Ngoài ra, ít gặp nhóm thứ ba là bệnh “Toxocara spp. biến đổi” (Convert Toxocariosis). Trường hợp này thấy ở những bệnh nhân có huyết thanh chẩn đoán giun đũa chó dương tính kết hợp với một số triệu chứng hay dấu hiệu lâm sàng có tính hệ thống và khu trú ở một số vùng nhất định của cơ thể nhưbụng (đau bụng), thần kinh (khiếm khuyết về tâm thần, động kinh), phổi (suyễn), da (dị ứng kéo dài).

Theo Iddawela D. R. và cs. (2003), ấu trùng giun đũa Toxocara canis ký sinh ở người gây ra tình trạng đau bụng (45%), ho (30%), đau mình mẩy (23%), nổi mề đay (20%).

giun ở dạ dày của chó. Niêm mạc ruột non viêm cata, có nhiều điểm tụ huyết và xuất huyết.

Chẩn đoán

Do ấu trùng giunToxocara spp. không phát triển được thành dạng trưởng thành và không có khả năng sinh sản ở người, nên khi xét nghiệm phân người sẽ không chẩn đoán được bệnh. Chỉ có thể chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó ở người bằng phương pháp huyết thanh học để phát hiện kháng thể kháng Toxocara spp. trong máu người (có thể sử dụng kỹ thuật ELISA để chẩn đoán bệnh ở người)..

6. Phòng, trị bệnh

8.1. Tẩy giun đũa cho chó

Có thể tẩy giun đũa cho chó bằng một trong các thuốc sau:

Piperazin hydrat: liều 100 – 150 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Piperazin citrat: liều 150 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Piperazin adipate: liều 100 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

Levamisol: liều 15 – 20 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

                   Hiệu quả tẩy rất cao và an toàn.

Mebendazol: liều 90 – 100 mg/kg TT. Trộn thức ăn cho chó ăn.

                  Thuốc an toàn và hiệu quả cao.

Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) đã sử dụng thuốc levamisol, liều 15 mg/kg TT để tẩy giun đũa cho chó, kết quả cho thấy, thuốc có hiệu lực tẩy đạt 86,66%, trong khi dùng thuốc sanpet (liều 25 mg/kg TT), hiệu lực tẩy giun đũa và các giun tròn khác đạt 93,33%.

8.2. Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó cho người

Điều trị nội khoa: Phần lớn những trường hợp mắc bệnh ấu trùng giun đũa chó ở người mức độ nhẹ có triệu chứng không rõ ràng, vì vậy bệnh nhân thường không đến khám và diều trị tại các cơ sở y tế. Sau đó, bệnh có thể tự khỏi sau vài tuần hoặc vài tháng. Vấn đề điều trị bằng thuốc chống ký sinh trùng thường được áp dụng đối với những trường hợp người mắc bệnh nặng như tổn thương ở phổi, não, tim, hoặc ngứa ngáy, nổi mề đay nặng Có thể sử dụng một trong những thuốc sau:

 Albendazole: liều 10 – 15 mg/kgTT/ngày x 15 – 21 ngày.

 Mebendazole: liều 100 mg x 2 lần/ngày x 3 ngày (thuốc này không khuyến cáo dùng cho trẻ dưới 2 tuổi).

 Thiabendazole: 50 mg/kgTT/ngày, chia 2 lần x 7 ngày, không vượt quá 3 gam/ngày.

 Dietylcarbamazine: 6 mg/kgTT/ngày, chia 3 lần x 10 ngày (thuốc này không khuyến cáo dùng cho trẻ em).

 Điều trị ngoại khoa: Biện pháp điều trị ngoại khoa được đặt ra đối với những trường hợp bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở mắt.  

Trần Trọng Dương (2013) đã sử dụngalbendazoleđiều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó ở người tại 2 xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, với liều 10 mg/kg/ngày ở trẻ em (5 – 15 tuổi) và 15 mg/kgTT/ngày ở người lớn (trên 15 tuổi) trong 21 ngày. Kết quả sauđiều trị 1 tháng cho thấy, các triệu chứng lâm sàng đều giảm đi rõ rệt: mẩn ngứa (37,3% – 4%), nổi mề đay (4,7% – 0,8%), đau mình mẩy (19% – 0), đau bụng (6,4% – 1,6%), đau đầu (8,7% – 0), sốt (4% – 0), rối loạn tiêu hóa (6,4% – 0,8%), các triệu chứng khác chiếm 13,5% – 1,6%; các xét nghiệm cận lâm sàng cũng cho thấy 96,0% số bệnh nhân có bạch cầu ái toan giảm đến mức giới hạn bình thường.

8.3. Phòng và kiểm soát bệnh

            Tăng cường quản lý đàn chó: không thả rông chó; nuôi chó nhốt trong cũi (chuồng), vệ sinh thức ăn và nước uống cho chó; định kỳ cọ rửa, tiêu độc cũi và nền chuồng.

            Để phòng nhiễm ấu trùng giun đũa chó, người cần thực hiện tốt việc ăn chín uống sôi, không tiếp xúc trực tiếp với chó, không bề bồng chó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Ngân, Bùi Chí Vinh, Bùi Văn Dũng (2015). “Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XXII. Số 4 – 2015, tr 68 – 75.

Dương Đức Hiếu, Bùi Khánh Linh, Sử Thanh Long (2014), “Bước đầu nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của chó tại xã Sơn Nga, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII. Số 8 – 2014.

Lê Văn Đoan, Võ Hữu Hội (2008), “Nhân 02 trường hợp nhiễm ấu trùng giun đũa chó nội tạng được chẩn đoán và điều trị tại Khoa Nhi BV Đà Nẵng”, Nguồn: http://khoanhidanang.com.vn/detail.php?dm=1&id=5.

Huỳnh Hồng Quang (2008), Toxocara canis và Toxocara cati một bệnh gây ra do ký sinh trùng, Nguồn: http://news.bacsi.com/kien-thuc/chuyen-khoa/toxocara-canis-va-toxocara-cati-mot-benh-gay-ra-do-ky-sinh-trung.

Antolová D., Jarčuška P., Janičko M., Madarasová-Gecková A., Halánová M., Čisláková L., Kalinová Z. Reiterová K., Škutová M., Pella D., Mareková M. (2015), “Seroprevalence of human Toxocara infections in the Roma and non-Roma populations of Eastern Slovakia: a cross-sectional study”, Epidemiol Infect, 143(10), pp. 2249 – 2258.

Borecka A., Kłapeć T. (2015), “Epidemiology of human toxocariasis in Poland – A review of cases 1978 – 2009”, Ann Agric Environ Med., 22(1), pp. 28 – 31.

Cortés N. N., Núñez C. R., Guiliana B. G., García P. A., Cárdenas R. H. (2015), “Presence of anti-Toxocara canis antibodies and risk factors in children from the Amecameca and Chalco regions of México”, BMC Pediatr, 15 (65).

Despommier D. (2003). “Toxocariasis: clinical aspects, epidemiology, medical ecology, and molecular aspects”. Clin Microbiol Rev, 16 (2), pp. 265 – 272.

Holland, Celia and Smith H.V. (2006) Toxocara: The Enigmatic D. R., Kumarasiri P. V., de Wijesundera M. S. (2003), “A seroepidemiological study of toxocariasis and risk factors for infection in children in Sri Lanka”, Southeast Asian J Trop Med Public Health, Vol. 34, No. 1, pp. 7 – 15.

Marty, Aileen (2000). Toxocariasis Chapter 27, pages 411- 421 in Meyers WM, Neafie RC, Marty A. M., Wear D. J. (Eds) Pathology of Infectious Diseases Volume I: Helminthiases. Armed Forces Institute of Pathology, Washington DC.;http://www.afip.org/cgi-bin/description.cgi?item=FS28.

Bạn đang xem bài viết Bệnh Parvo Ở Chó – Bệnh Viện Thú Y Petcare trên website Misssportsvietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!